☰
Giỽi thiệu A▼
Tin tß╗⌐cSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Dịch vụNg╞░ß╗¥i & ─Éß║Ñt qu├¬ h╞░╞íng
MultiMedia▼
Zalo

Tục cúng đất ở Quảng Trị

Y THI    06/05/2026    126
1. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều triều đại vua chúa kế thế trị vì đất nước. Tuy thể chế mỗi triều mỗi khác song ông vua nào đương ngôi hàng năm cũng đều làm lễ tế trời vào mùa xuân. Vào dịp này nhà vua ít nhất phải có 15 ngày trai giới, giữ gìn thể xác và tâm hồn trong sạch, cách ly cung điện, cung tần mỹ nữ để đến ăn ngủ ngay tại nơi lập đàn tế (thường gọi là đàn Nam Giao) toàn tâm toàn ý hướng về lẽ trời trước khi lên khấn nguyện. Làm như vậy là ngay trong thâm tâm mình, nhà vua không coi mình là người có quyền lực cao nhất để tự ý muốn làm gì thì làm mà đặt quyền lực của mình dưới quyền lực của trời, cầu cho quốc thái dân an, hợp với ý trời (thuận thiên) và lòng người. Nhưng nó là nghi lễ ở chốn cung đình, còn cúng đất, có người nói đất cát vô tri thì cúng để làm gì?

Nói vậy là họ chưa hiểu hết cội nguồn văn hóa của dân tộc. Có Trời ắt phải có Đất. Quả bầu mẹ sinh ra nhân quần là biểu trưng của đất. Có mẹ đất cha trời mới giao duyên phối ngẫu sinh ra cây cỏ muôn loài. Tục cúng đất đã có từ xa xưa, cúng để tạ ơn đất đai là Mẹ Thiên nhiên đã nuôi dưỡng con người. Trong quá trình thiên di và hội nhập nơi vùng đất mới nó bổ sung vào rất nhiều thành tố mới lạ song vẫn lưu giữ được những ý nghĩa rất nhân bản sơ khai, có thể nói là đậm đà bản sắc dân tộc rất cần gìn giữ và phát huy.

Ai cũng biết hành trình “Nam tiến” của Đại Việt bắt đầu từ khi vua Chăm là Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để chuộc mạng vào năm 1069 dưới thời nhà Lý. Bấy giờ một lượng lớn người dân xứ Thanh - Nghệ mới đến phía bắc châu Minh Linh khai khẩn đất đai, lập nên làng mạc. Dưới thời nhà Trần và nhà Hồ có thêm một số đợt di dân lẻ tẻ vào phía nam châu Minh Linh. Nhưng phải đến năm Bính Ngọ (1306), với cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và quốc vương Chăm là Chế Mân đã mang lại cho Đại Việt hai châu Ô, Lý mà quốc vương Chăm dâng tặng làm sính lễ cầu hôn thì mới có những cuộc di dân có tổ chức. Đến thời nhà Lê, với cuộc đại di dân vào vùng Thuận Hóa sau năm 1471, các làng xã người Việt ở Quảng Trị chính thức được định hình. Và nhất là dưới thời các chúa Nguyễn, với những chính sách cai trị mềm dẻo, khôn ngoan trong việc phát triển kinh tế - xã hội, biết bao thế hệ lưu dân Việt đã rời bỏ quê cha đất tổ của mình trên đất Bắc tìm vào hội tụ trên vùng đất mới. Họ ra đi nhưng vẫn mang theo truyền thống văn hóa ngàn đời nơi quê cha đất tổ, trong khi ở vùng đất mới nhiều nhóm cư dân Chăm vẫn tồn tại.

Quá trình cộng cư cũng là quá trình hội nhập và phong hóa, tạo nên một diện mạo văn hóa (địa văn hóa) mới đa sắc màu trên vùng đất Thuận Hóa mà cư dân Việt là người giữ vai trò chủ thể với nhiều điểm khác biệt so với tổ tiên họ ở Đàng Ngoài. Trên quê hương mới gọi là vùng đất “Ô châu ác địa” không chỉ là nơi thường xuyên diễn ra các biến cố xã hội bởi chiến tranh, ly tán, chia cắt mà còn đối đầu với môi trường tự nhiên khắc nghiệt đặt con người trước những thử thách bởi hạn hán, mưa bão, lũ lụt lẫn những mối đe dọa rình rập khác làm cho những con người tha hương không thể không lo ngại. Ca dao cổ có câu: Tới đây đất nước lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng kinh! Trong hoàn cảnh như thế, để khẳng định mình, các nhóm cư dân Việt phải tạo ra một lực lượng tinh thần mới đủ sức neo đậu con thuyền lưu dân trên bờ bến mới. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng, đã có một cuộc tổng hợp văn hóa lớn từng diễn ra trên vùng đất Quảng Trị nói riêng và Thuận Hóa nói chung từ thế kỷ XI - XIX. Tổng hợp ở đây là từ những cái đã có để tạo ra một cái gì khác, là khả năng “thăng hoa những yếu tố văn hóa ngoại lai để trở thành những giá trị văn hóa thuần Việt, thực hiện một cách có hiệu quả sự tổng hợp văn hóa đại lục ở phía Bắc và văn hóa hải đảo ở phía Nam”. Tất nhiên quá trình tiếp nhận, kết tinh, tổng hợp ấy thông qua rất nhiều con đường, kéo dài ra ở rất nhiều thế hệ, từ các cuộc hôn nhân dị chủng đến sự giao thoa về âm nhạc; kiến trúc điêu khắc đến tín ngưỡng thờ cúng và cách ăn ở, ăn mặc… trong đó có tập tục cúng đất, nét đẹp trong tâm thức của người Việt sống trên mảnh đất sính lễ xưa.

Cúng đất còn gọi là lễ “Kỳ an Thổ thần” hay “Tạ thổ kỳ yên”. Người Việt cổ xưa quan niệm “đất có Thổ công, sông có Hà bá”, cúng đất là để cầu nguyện âm siêu, dương thái, phần âm có yên ổn thì người dương mới yên ổn và có an cư thì mới lạc nghiệp. Cúng đất nói chung là tín ngưỡng của một vùng cư dân song tùy theo địa vực cư trú và thổ nhưỡng từng nơi mà có những đặc điểm riêng. Ví như ở vùng núi vào các dịp chọn đất lập làng hay mở cửa rừng thì cúng thần rừng, mâm cúng thường có sản vật của rừng. Ở biển thì cúng thần Nam Hải, ông Ngư, mâm cúng có sản vật biển. Dù cúng ở đâu thì cũng mang nghĩa thành kính tạ ơn, thiêng hóa những sức mạnh vô hình tác động đến đời sống con người, mong cầu hộ độ trì cho việc làm ăn sinh sống của cư dân được mưa thuận gió hòa trên đất đai rừng biển. Đó là chỉ dấu của nền văn hóa, văn minh nông nghiệp vốn chịu tác động thường xuyên của thiên nhiên và đó cũng là chỉ dấu về mặt tín ngưỡng tâm linh của tổ tiên ông bà. Người Việt khi mong ước điều gì họ “cầu Trời, khấn Phật” cho được toại nguyện như một thao tác phản xạ tự nhiên vì trong tâm thức họ tồn tại hai cõi tâm linh song hành. Thứ nhất là cõi thần tiên của Lão giáo với Ngọc Hoàng Thượng đế, các vị thánh trên Thiên đình và các vị táo quân, Thổ địa ở trần gian cùng các ông tiên, nàng tiên xuất hiện giúp họ vượt qua khó khăn hiểm nghèo. Thứ đến là cõi Phật với Phật tổ Như Lai, Bồ tát Quan Âm cùng nhiều vị Bồ tát, La Hán khác. Một số người không có một tín ngưỡng chính thức vẫn “ẩn tàng” kết hợp việc thờ cúng tổ tiên theo đạo thần, đạo Lão với sự giác ngộ của đạo Phật. Dẫu cho thế giới biến đổi hàng ngày, hàng giờ và đến đâu chăng nữa chúng ta vẫn tin rằng tín ngưỡng âm thầm kia của người Việt sẽ tồn tại lâu bền với thời gian mà bằng chứng là tập tục cúng đất. Không chỉ người dân bất luận giàu nghèo cúng ở nhà mình mà người ta còn cúng ở công ty, doanh nghiệp và cả các cơ quan công sở…

Điều đáng chú ý là người Việt ở vùng ngũ Quảng (Quảng Bình cũ, Quảng Trị, Quảng Đức - Thừa Thiên Huế ngày nay, Quảng Nam cũ, Quảng Ngãi cũ) và cả một số tỉnh Nam Trung Bộ nữa, ngoài ý niệm cúng đất là tạ ơn trời đất cũng còn tri ân các bậc tiền nhân mở đất lập làng, các vị thổ địa, thổ công, thành hoàng làng, các vị tiền khai khẩn, hậu khai canh thì còn lý do đặc biệt là nghi lễ này còn có sự phối thuộc thờ cúng các thần vị cai quản đất đai, tổ tiên tộc người Chăm và cả ma Chăm (ma Hời) tiền trú, không nơi nương tựa, không ai thờ cúng. Lễ vật dâng cúng bao giờ cũng dành phần riêng cho vong linh Chăm, dù rất khiêm tốn nhưng đặc trưng và thành kính. Trong lễ cúng đất ở Quảng Nam cũ có bày mâm lễ vật gọi là “tá thổ”, tá có nghĩa là tá túc, là thuê mướn đất sinh sống nay trả ơn cho chủ đất (tiền chủ). Như thế, từ mâm cúng đất mà thấu hiểu nguồn cơn, như đã nói về sự hình thành đất này, nhất là đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vậy.

2. H├áng n─âm, ng╞░ß╗¥i ta th╞░ß╗¥ng tß╗ò chß╗⌐c c├║ng ─æß║Ñt v├áo th├íng hai hoß║╖c th├íng t├ím ├óm lß╗ïch. Ai c┼⌐ng chß╗ìn ng├áy tß╗æt, giß╗¥ tß╗æt, tß╗æi kß╗ï giß╗¥ Dß║ºn v├¼ giß╗¥ Dß║ºn thß║ºn kh├┤ng h╞░ß╗ƒng. Gi├áu l├ám k├⌐p, hß║╣p l├ám ─æ╞ín nh╞░ng mß╗Öt m├óm c├║ng ─æß║Ñt nhß║Ñt thiß║┐t phß║úi c├│ b├án th╞░ß╗úng, b├án trung v├á b├án hß║í. ß╗₧ cß║ú ba b├án n├│i tr├¬n ─æß╗üu c├│ h╞░╞íng ─æ├¿n, hoa quß║ú, c╞íi cau trß║ºu, ly r╞░ß╗úu trß║»ng, n╞░ß╗¢c trong, giß║Ñy tiß╗ün v├áng m├ú. Lß╗à vß║¡t ß╗ƒ ba b├án b├ái tr├¡ c├│ sß╗▒ kh├íc biß╗çt nh╞░ sau: Lß╗à vß║¡t ß╗ƒ b├án th╞░ß╗úng bß║»t buß╗Öc phß║úi c├│ bß╗Ö ├ío Thß╗ò thß║ºn, con g├á, ─æ─⌐a x├┤i. Con g├á c├║ng ß╗ƒ m├óm th╞░ß╗úng phß║úi chß╗ìn lß╗▒a kß╗╣ c├áng, ─æ├│ l├á ch├║ g├á trß╗æng kiß║┐n tß╗⌐c g├á ta c├│ m├áo ─æß╗Å ch├│t, l├┤ng t├¡a v├áng ├│ng m╞░ß╗út v├á tß║Ñt nhi├¬n ch├ón phß║úi m├áu v├áng. Gß╗ìi ch├║ g├á trß╗æng ngh─⌐a l├á g├á phß║úi ─æ├║ng gi├▓, kh├┤ng non m├á c┼⌐ng kh├┤ng tra (g├á t╞í ch╞░a ─æß║íp m├íi), kh├┤ng c├║ng g├á ΓÇ£mß╗ông trß╗⌐tΓÇ¥, ch├ón ch├¼, l├┤ng nß╗ò nhiß╗üu m├áu sß║╜ mang ─æiß╗üm xß║Ñu ─æß║┐n cho gia chß╗º. Tr╞░ß╗¢c lß╗à c├║ng, g├á ─æ╞░ß╗úc nhß╗æt trong lß╗ông ba ng├áy cho ─ân th├│c gß║ío hoß║╖c c╞ím v├á uß╗æng n╞░ß╗¢c sß║ích gß╗ìi l├á tß║⌐y uß║┐ tr╞░ß╗¢c khi d├óng c├║ng thß╗ò thß║ºn. Con g├á c├║ng ─æ╞░ß╗úc luß╗Öc ch├¡n c├╣ng bß╗Ö l├▓ng v├á tiß║┐t k├¿m nh├║m muß╗æi hß║ít. ß╗₧ b├án trung lß╗à vß║¡t gß╗ôm: Hai bß╗Ö ├ío B├á, 5 bß╗Ö ├ío ng┼⌐ ph╞░╞íng vß╗¢i lß╗à vß║¡t l├á m├óm c╞ím vß╗¢i ─æß║ºy ─æß╗º thß╗⌐c ─ân c├íc loß║íi, ─æß║╖c biß╗çt l├á c├│ b├ính t├⌐t, b├ính ch╞░ng nh╞░ ng├áy Tß║┐t. B├án hß║í gß╗ôm: ├üo binh ─æß╗º m├áu (sß╗æ l╞░ß╗úng t├╣y gia chß╗º), nhiß╗üu ─æ─⌐a x├┤i ch├¿, ─æß║╖c biß╗çt c├│ mß║Ñy quß║ú trß╗⌐ng, t├┤m cua, miß║┐ng ΓÇ£thß╗ït tß╗úΓÇ¥ (thß╗ït ba chß╗ë), ─æ─⌐a rau khoai luß╗Öc k├¿m ch├⌐n mß║»m n├¬m c├╣ng vß╗¢i mß╗Öt gß║»p c├í ─æß╗º loß║íi n╞░ß╗¢ng v├áng (c├í s╞ín, c├í liß╗çt, c├í mß║íiΓǪ), m├¡a ─æß╗æt, khay hß║ít nß╗ò trß╗Ön gß║ío, muß╗æi sß╗æng, t├┤ ΓÇ£ch├ío th├ínhΓÇ¥, ─æ─⌐a khoai, sß║»n, ng├┤ luß╗ÖcΓǪ M├óm lß╗à c├║ng ─æß║Ñt ─æß║╖t ß╗ƒ tr╞░ß╗¢c nh├á, gia chß╗º ─æß╗⌐ng ß╗ƒ trong nh├á c├║ng ra kh├íc vß╗¢i c├║ng ─æß║ºy th├íng cho con trß║╗ (c├║ng ─æß║Ñt c├║ng ra, c├║ng b├á c├║ng v├┤). Nhiß╗üu ─æß╗æi t╞░ß╗úng ─æ╞░ß╗úc gia chß╗º ghi t├¬n v├áo tß╗¥ ΓÇ£sß╗¢ΓÇ¥ v├á ─æ╞░ß╗úc ─æß╗ìc l├¬n khi c├║ng gß╗ôm thß║ºn Thß╗ò ─æß╗ïa ─æß║┐n thß║ºn n├║i, thß║ºn s├┤ng, cß║ú thß║ºn ΓÇ£Man Di, Mß╗ìi Rß╗úΓÇ¥ (thß║ºn linh ng╞░ß╗¥i Ch─âm)... Khi lß╗à c├║ng gß║ºn xong, gia chß╗º thay n╞░ß╗¢c tr├á v├á h├│a ΓÇ£v├áng m├ú giß║Ñy ├íoΓÇ¥. ─Éiß╗üu ─æ├íng l╞░u ├╜ l├á gia chß╗º kh├┤ng bao giß╗¥ qu├¬n ─æß╗â phß║ºn v├áo mß╗Öt c├íi gß╗ìi l├á ΓÇ£x├á l├⌐tΓÇ¥ bß║▒ng bß║╣ chuß╗æi, bß╗Å v├áo ─æ├│ mß╗Öt ├¡t thß╗⌐c ─ân (nh╞░ khoai sß║»n, nh├║m rau khoai luß╗Öc k├¿m mß║»m n├¬m, gß║»p c├í n╞░ß╗¢ngΓǪ) mang ra treo ß╗ƒ gß╗æc c├óy tr╞░ß╗¢c ng├╡ hoß║╖c ng├ú ba ─æ╞░ß╗¥ng nh╞░ l├á khß║⌐u phß║ºn cho ng╞░ß╗¥i ├óm khi ch╞░a kß╗ïp ─æß║┐n dß╗▒ lß╗à c├║ng ─æß║Ñt. Phß║⌐m vß║¡t sau lß╗à c├║ng sß║╜ ─æ╞░ß╗úc gia chß╗º mß╗¥i mß╗ìc b├á con l├íng giß╗üng ─æß║┐n d├╣ng gß╗ìi l├á ΓÇ£thß╗½a thß║ºn chi huß╗çΓÇ¥.

Điều đó cho chúng ta những nhận xét gì qua những sản vật nông nghiệp mà người dân Quảng Trị và “ngũ Quảng” dâng cúng trong lễ cúng đất?

3. C├│ rß║Ñt nhiß╗üu chß╗ë dß║Ñu cß╗ºa v─ân h├│a m├á cß╗æ GS. Trß║ºn Quß╗æc V╞░ß╗úng gß╗ìi l├á ΓÇ£mß╗Öt bß║ún sß║»c ─æß╗ïa v─ân h├│a ─æ╞░ß╗úc ng╞░ß╗¥i Viß╗çt kß║┐ thß╗½a tß╗½ ng╞░ß╗¥i Ch─âmΓÇ¥ (Miß╗ün Trung Viß╗çt Nam v├á v─ân h├│a Champa - mß╗Öt c├íi nh├¼n ─æß╗ïa v─ân h├│a). ─É├│ l├á sß╗▒ giao thoa vß╗ü ├óm nhß║íc vß╗¢i Quan hß╗ì Bß║»c Ninh v├á Nam B├¼nh Nam Ai xß╗⌐ Huß║┐ (Trß╗ï - Thi├¬n) m├á cß╗æ GS. Trß║ºn V─ân Kh├¬ cho rß║▒ng ΓÇ£trong nhiß╗üu thß║┐ kß╗╖ giao l╞░u nhß║íc Viß╗çt ─æ├ú nhuß╗æm m├áu Ch├ámΓÇ¥, l├á ΓÇ£AriyaΓÇ¥ Ch─âm vß╗¢i lß╗Ñc b├ít Viß╗çt giao thoa th├ánh m├│n ─ân ─æß║╖c sß║ún tinh thß║ºn, l├á tinh thß║ºn viß╗àn d╞░╞íng Champa x╞░a truyß╗ün cho ng╞░ d├ón miß╗ün Trung l├▓ng quß║ú cß║úm ─æ├ính bß║»t xa bß╗¥, l├á ng╞░ß╗¥i Ch─âm ─æß╗â lß║íi mß╗Öt phß║ºn ΓÇ£├ío d├áiΓÇ¥ cho ng╞░ß╗¥i Viß╗çt cß║úi tiß║┐n th├ánh ├ío d├ái nß╗⌐c tiß║┐ng thß║┐ giß╗¢i, l├á c├ích l├ám thß╗ºy lß╗úi, ─æ├áo giß║┐ng ─æß║┐n kß╗╣ thuß║¡t lß║Ñy n╞░ß╗¢c ngß║ºm, l├á c├ích chß╗»a bß╗çnh bß║▒ng thuß╗æc Nam, l├á cß╗æi xay l├║a v.vΓǪ ß╗₧ ─æ├óy t├┤i chß╗ë g├│i gß╗ìn c├íc sß║ún phß║⌐m n├┤ng nghiß╗çp trong m├óm c├║ng ─æß║Ñt. Tr╞░ß╗¢c hß║┐t ─æ├│ l├á m├óm c╞ím v├á hß║ít nß╗ò. M├óm c╞ím l├ám ta nhß╗¢ lß║íi c├íi giß╗æng l├║a Chi├¬m (l├║a Ch─âm, giß╗æng l├║a chß╗ïu hß║ín tr╞░ß╗¢c khi c├│ thß╗ºy lß╗úi c├▓n gieo tr├¬n ─æß╗ông ─æß║Ñt Quß║úng Trß╗ï tr╞░ß╗¢c n─âm 1975). C┼⌐ng giß╗æng l├║a Chi├¬m n├áy tß╗½ Viß╗çt Nam lan sang tß║¡n Trung Quß╗æc tß║ío n├¬n mß╗Öt cuß╗Öc c├ích mß║íng kinh tß║┐ lß╗¢n lao c├▓n gß╗ìi l├á ΓÇ£l├║a ti├¬nΓÇ¥. C┼⌐ng nh╞░ hß║ít nß╗ò l├á ch├⌐n th├│c ─æ╞░ß╗úc rang nß╗ƒ bung ra chß╗⌐ kh├┤ng phß║úi l├á thß╗⌐ hß║ít nß╗ò c├┤ng nghß╗ç b├óy giß╗¥. Ng╞░ß╗¥i Ch─âm ─æ├ú nhß║¡p v├á thuß║ºn h├│a c├íc loß║íi thß╗▒c vß║¡t ─æß╗â trß╗ông trß╗ìt v├á x├óy dß╗▒ng n├¬n c├íc v├╣ng ─æß║╖c sß║ún m├á ng╞░ß╗¥i Viß╗çt thß╗½a kß║┐ nh╞░ khoai (khoai Tr├á ─É├│a), m├¡a (m├¡a ─æ╞░ß╗¥ng Quß║úng Ng├úi)ΓǪ mß╗¢i c├│ mß║Ñy loß║íi sß║ún phß║⌐m ─æß║╖c tr╞░ng n├áy trong m├óm c├║ng (m├¡a kh├║c, khoai m├┤n sß║»n luß╗Öc, rau lang luß╗ÖcΓǪ) ─æß║╖c biß╗çt ─æß╗ô ─ân biß╗ân, c├íc loß║íi mß║»m ph├╣ hß╗úp vß╗¢i sß╗ƒ th├¡ch ─ân cay, ─ân mß║╖n (n╞░ß╗¢c mß║»m, mß║»m n├¬m, mß║»m chß╗úp, mß║»m c├á, mß║»m d╞░a, mß║»m ch├¬ngΓǪ) m├á mß║»m n├¬m l├á loß║íi mß║»m ti├¬u biß╗âu ─æ╞░ß╗úc lß╗▒a chß╗ìn ─æi k├¿m vß╗¢i rau lang luß╗Öc.

Cuối cùng từ những tản mạn về tập tục cúng đất nói trên dẫn dắt chúng ta đến kết luận gì? Theo tôi đó là nét đẹp từ văn hóa tâm linh đến triết lý nhân văn là sự sống nương vào thiên nhiên, hòa hợp sống chung với thiên nhiên và không nên phụ bạc thiên nhiên. Ngoài việc tri ân đối với tiền nhân nơi mình sinh sống cũng như việc giữ gìn tinh thần đoàn kết, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, các dân tộc thì Mẹ Đất vẫn là cội nguồn của sự sống để họ kính trọng và tôn thờ.

Y.T