☰
Giỽi thiệu A▼
Tin tß╗⌐cSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Dịch vụNg╞░ß╗¥i & ─Éß║Ñt qu├¬ h╞░╞íng
MultiMedia▼
Zalo

Hình tượng ngựa trong mỹ thuật xưa và nay

NGUY├èN SA    13/02/2026    111
Khoảng 4000 - 5500 năm trước Công nguyên, trên các vùng thảo nguyên Á - Âu thuộc khu vực Kazakhstan - Mông Cổ ngày nay, ngựa được con người thuần hóa từ một loài động vật hoang dã. Ban đầu, ngựa được nuôi chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của các cộng đồng du mục sinh sống trên đồng cỏ. Về sau, cùng với quá trình thích nghi và khai thác, ngựa trở thành loài vật gắn bó mật thiết với đời sống con người, giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của nhiều nền văn hóa cũng như các nền văn minh nhân loại.

Ngựa trong tranh Đông Hồ

Ngựa trong tranh Đông Hồ

Hiếm có loài vật nào gắn bó với đời sống con người đa dạng như ngựa. Từ nguồn thực phẩm cung cấp thịt và sữa, ngựa dần trở thành phương tiện di chuyển, tham gia sản xuất nông nghiệp, giải trí và giữ vai trò quan trọng trong quân sự trước thời đại công nghiệp. Song song với giá trị sử dụng, ngựa còn gây ấn tượng mạnh về mặt thẩm mỹ bởi hình thể cân đối, sức mạnh, tốc độ và tập tính sinh sống đặc thù. Chính vì vậy mà từ rất sớm, trên nhiều hang động, người nguyên thuỷ đã chọn hình tượng ngựa để thể hiện sự quan sát, hiểu biết và chinh phục của mình với thế giới tự nhiên. Trải qua bao biến thiên, ngựa trở thành biểu tượng quen thuộc trong văn hóa và mỹ thuật của nhiều cộng đồng, đặc biệt ở những vùng thảo nguyên và đồng cỏ rộng lớn.

Khu vß╗▒c c├íc n╞░ß╗¢c ├ü ─É├┤ng, ngß╗▒a v├á h├¼nh t╞░ß╗úng thß║⌐m mß╗╣ vß╗ü ngß╗▒a ─æ├ú phß╗ò biß║┐n trong ─æß╗¥i sß╗æng x├ú hß╗Öi tß╗½ rß║Ñt sß╗¢m. ß╗₧ Trung Quß╗æc, c├íc ph├ít hiß╗çn khß║úo cß╗ò vß╗ü t╞░ß╗úng ngß╗▒a v├á xe ngß╗▒a k├⌐o c├│ ni├¬n ─æß║íi khoß║úng n─âm 2450 TCN cho thß║Ñy sß╗▒ hiß╗çn diß╗çn cß╗ºa lo├ái vß║¡t n├áy trong lß╗ïch sß╗¡ v─ân minh. H├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a x├¡ch thß╗æ ΓÇ£ng├áy ─æi ng├án dß║╖mΓÇ¥ gß║»n liß╗ün vß╗ï t╞░ß╗¢ng nß╗òi tiß║┐ng Quan V├ón Tr╞░ß╗¥ng trong tiß╗âu thuyß║┐t Tam quß╗æc diß╗àn ngh─⌐a cß╗ºa La Qu├ín Trung ─æ├ú trß╗ƒ th├ánh biß╗âu t╞░ß╗úng cß╗ºa c├íi ─æß║╣p trong nhiß╗üu loß║íi h├¼nh nghß╗ç thuß║¡t cß╗ºa Trung Quß╗æc. Vß╗¢i b├║t ph├íp ph├│ng kho├íng mang t├¡nh ╞░ß╗¢c lß╗ç cß╗ºa nghß╗ç thuß║¡t truyß╗ün thß╗æng, nhiß╗üu hoß║í s─⌐ Trung Quß╗æc kß║┐ thß╗½a v├á ─æ├ú rß║Ñt th├ánh c├┤ng khi vß║╜ vß╗ü ngß╗▒a nh╞░ Tß╗½ Bi Hß╗ông, L╞░u Bß╗Öt Th╞░ΓǪ

Ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, ngựa xuất hiện từ thời kỳ đồ Đồng và sớm gắn bó với đời sống con người, đặc biệt trong bối cảnh sinh tồn của các cộng đồng trung du, miền núi và những không gian cư trú rộng mở. Trong lịch sử và tâm thức dân gian, ngựa hiện diện vừa như một thực thể đời sống vừa như một biểu tượng tinh thần. Ngay từ thời Hùng Vương thứ sáu, hình tượng ngựa đã đi vào huyền thoại qua truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt phá giặc Ân. Trải qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước, hình tượng ấy tiếp tục được bồi đắp, trở thành biểu tượng oai hùng gắn liền với ý chí bảo vệ non sông của người Việt.

Vua Lý Thái Tổ, người khai sáng triều Lý và mở ra thời kỳ hưng thịnh đầu tiên của Đại Việt, đã gắn việc xây dựng kinh đô Thăng Long với dấu tích linh thiêng của ngựa trắng. Truyền thuyết về việc xây thành theo dấu chân ngựa Bạch Mã dẫn đến sự ra đời của Đền Bạch Mã, thờ thần Long Đỗ (Tô Lịch giang thần), sau được tôn làm “Quốc đô Thăng Long thành hoàng kinh đô”. Ngôi đền trở thành một trong “Thăng Long tứ trấn”, bảo vệ kinh thành ở phía Đông, phản ánh sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực chính trị, tín ngưỡng bản địa và biểu tượng ngựa trong tâm thức người Việt.

Trong các cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII, hình tượng ngựa gắn liền với khí phách và tinh thần xả thân của những anh hùng dân tộc. Tiêu biểu là hình ảnh Trần Quốc Toản - vị anh hùng thiếu niên với hành động “bóp nát quả cam” vì uất hận trước vận nước, cưỡi ngựa xông pha trận mạc, lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” tung bay trong cuộc kháng chiến năm 1285.

Trong kho t├áng truyß╗ün thuyß║┐t v├á ─æiß╗ân t├¡ch d├ón gian Viß╗çt Nam, h├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a c├▓n gß║»n liß╗ün vß╗¢i ng╞░ß╗¥i anh h├╣ng nh╞░ mß╗Öt biß╗âu tr╞░ng quen thuß╗Öc cß╗ºa sß╗⌐c mß║ính, l├▓ng trung ngh─⌐a v├á kh├ít vß╗ìng v╞░╞ín l├¬n. ß╗₧ b├¼nh diß╗çn v─ân h├│a d├ón gian, ngß╗▒a xuß║Ñt hiß╗çn vß╗¢i tß║ºn suß║Ñt d├áy ─æß║╖c trong tß╗Ñc ngß╗», ca dao v├á th├ánh ngß╗», phß║ún ├ính nhß╗»ng gi├í trß╗ï ─æß║ío ─æß╗⌐c v├á quan niß╗çm sß╗æng cß╗ºa cß╗Öng ─æß╗ông. Nhß╗»ng c├óu tß╗Ñc ngß╗» nh╞░ ΓÇ£Mß╗Öt con ngß╗▒a ─æau, cß║ú t├áu bß╗Å cß╗ÅΓÇ¥ nhß║Ñn mß║ính tinh thß║ºn ─æo├án kß║┐t, t╞░╞íng th├ón t╞░╞íng ├íi; ΓÇ£M├ú ─æ├ío th├ánh c├┤ngΓÇ¥ biß╗âu tr╞░ng cho ╞░ß╗¢c vß╗ìng vß╗ü may mß║»n v├á th├ánh ─æß║ít; trong khi c├íc th├ánh ngß╗» nh╞░ ΓÇ£Ngß╗▒a non h├íu ─æ├íΓÇ¥, ΓÇ£C╞░ß╗íi ngß╗▒a xem hoaΓÇ¥ lß║íi mang t├¡nh r─ân dß║íy, phß║ún ├ính kinh nghiß╗çm sß╗æng v├á th├íi ─æß╗Ö ß╗⌐ng xß╗¡ cß╗ºa con ng╞░ß╗¥i tr╞░ß╗¢c thß╗▒c tiß╗àn. ß╗₧ tß║ºng ngh─⌐a s├óu h╞ín, h├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a c├▓n gß║»n vß╗¢i tinh thß║ºn th╞░ß╗úng v├╡ v├á ├╜ ch├¡ bß║úo vß╗ç bß╗¥ c├╡i cß╗ºa d├ón tß╗Öc. C├óu n├│i ΓÇ£da ngß╗▒a bß╗ìc th├óyΓÇ¥ cho thß║Ñy quan niß╗çm sß║╡n s├áng hy sinh n╞íi sa tr╞░ß╗¥ng, coi c├íi chß║┐t v├¼ non s├┤ng l├á lß║╜ sß╗æng cao cß║ú. Ngß╗▒a c┼⌐ng l├á biß╗âu t╞░ß╗úng cß╗ºa kh├ít vß╗ìng th├ánh c├┤ng v├á danh dß╗▒ x├ú hß╗Öi, thß╗â hiß╗çn qua h├¼nh ß║únh Trß║íng nguy├¬n ΓÇ£vinh quy b├íi tß╗òΓÇ¥, c╞░ß╗íi ngß╗▒a vinh hiß╗ân trß╗ƒ vß╗ü qu├¬ h╞░╞íng sau khi ─æß╗ù ─æß║ít,ΓǪ

Hình tượng ngựa còn được thể hiện phong phú và liên tục trong các nền mỹ thuật lớn của thế giới, từ thời cổ đại Hy Lạp - La Mã, qua thời kỳ Phục Hưng, Cổ điển, cho đến các trường phái hiện đại và đương đại. Ở Việt Nam, từ rất sớm, hình tượng ngựa cũng đã xuất hiện trong nhiều loại hình nghệ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực mỹ thuật. Thời phong kiến, nền mỹ thuật truyền thống càng được chú trọng thể hiện qua tượng, chạm khắc, tranh vẽ gắn với các triều đại, các nhân vật lịch sử.

Trong t├¡n ng╞░ß╗íng thß╗¥ Mß║½u cß╗ºa ng╞░ß╗¥i Viß╗çt, ngß╗▒a ─æ╞░ß╗úc xem l├á ph╞░╞íng tiß╗çn di chuyß╗ân cß╗ºa c├íc vß╗ï thß║ºn linh giß╗»a c├╡i d╞░╞íng v├á ├óm, ─æß╗ông thß╗¥i t╞░ß╗úng tr╞░ng cho sß╗⌐c mß║ính, l├▓ng trung th├ánh, sß╗▒ ki├¬n nhß║½n v├á may mß║»n. H├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a gß╗ù thß╗¥ th╞░ß╗¥ng ─æ╞░ß╗úc tß║ío h├¼nh uy nghi├¬m ─æß║╖t trong c├íc ─æiß╗çn thß╗¥, ─æ├¼nh, ─æß╗ün, miß║┐u mß║ío ─æß╗â thß╗â hiß╗çn l├▓ng t├┤n k├¡nh. Trong c├íc c├┤ng tr├¼nh kiß║┐n tr├║c cung ─æ├¼nh Huß║┐ thß╗¥i nh├á Nguyß╗àn c├│ thß╗â thß║Ñy qua h├¼nh t╞░ß╗úng Long m├ú (Ngß╗▒a ho├í rß╗ông) ß╗ƒ tr├¬n m├íi ng├│i, c├íc b├¼nh phong. H├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a c┼⌐ng ─æ╞░ß╗úc thß╗â hiß╗çn tr├¬n Cß╗¡u ─æß╗ënh v├á trong c├íc c├┤ng tr├¼nh kiß║┐n tr├║c ─æiß╗çn, miß║┐u, l─âng tß║⌐m kh├íc. T╞░ß╗úng ngß╗▒a chß║ºu trong l─âng tß║⌐m c├íc vß╗ï vua ch├║a, danh t╞░ß╗¢ng thß╗¥i Trß║ºn, L├¬, Nguyß╗àn ─æß╗üu c├│ΓǪ B├¬n cß║ính ─æ├│, mß╗╣ thuß║¡t d├ón gian tß╗Å ra gß║ºn g┼⌐i v├á sinh ─æß╗Öng vß╗¢i ─æß╗¥i sß╗æng ng╞░ß╗¥i d├ón h╞ín. Trong tranh d├ón gian nh╞░ tranh H├áng Trß╗æng c├│ c├íc bß╗⌐c ΓÇ£M├ú ─æ├ío th├ánh c├┤ngΓÇ¥, ΓÇ£├öng ho├ángΓÇ¥, ΓÇ£B├á ch├║aΓÇ¥ΓǪ Tranh ─É├┤ng Hß╗ô c├│ c├íc bß╗⌐c nh╞░: ΓÇ£Th├ánh Gi├│ng ─æß║íi ph├í giß║╖c ├énΓÇ¥, ΓÇ£Tuß║Ñn m├úΓÇ¥, ΓÇ£Gi├ím m├úΓÇ¥ΓǪ Tranh l├áng S├¼nh c├│ ΓÇ£Ngß╗▒a bayΓÇ¥, ΓÇ£Ngß╗▒aΓÇ¥ΓǪ C├íc d├▓ng tranh ─æß╗ô thß║┐, tranh kiß║┐ng Nam bß╗Ö, tranh d├ón gian c├íc d├ón tß╗Öc v├╣ng n├║i ph├¡a Bß║»c lu├┤n thß╗â hiß╗çn h├¼nh t╞░ß╗úng Ngß╗▒a gß║»n vß╗¢i v─ân ho├í, t├¡n ng╞░ß╗íng d├ón gian trong c├íc ─æß╗ü t├ái phß╗Ñc vß╗Ñ ─æß╗¥i sß╗æng h├áng ng├áy, lß╗à hß╗Öi hay thß╗¥ c├║ngΓǪ Chß║ím khß║»c tr├¬n c├íc c├┤ng tr├¼nh cß╗ò nh╞░ l─âng tß║⌐m, ─æß╗ün ch├╣a, ─æ├¼nh l├ángΓǪ h├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a xuß║Ñt hiß╗çn vß╗¢i nhiß╗üu d├íng vß║╗, ß╗ƒ nhiß╗üu vß╗ï tr├¡ kh├íc nhau. C├│ khi xuß║Ñt hiß╗çn nh╞░ mß╗Öt linh th├║ ─æß╗Öc lß║¡p oai nghi├¬m, c┼⌐ng c├│ khi trong mß╗Öt hoß║ít cß║únh l├á lß╗à r╞░ß╗¢c hay sinh hoß║ít th╞░ß╗¥ng ng├áyΓǪ nh╞░ng c├│ ─æiß╗âm chung l├á to├ít l├¬n vß║╗ uy nghi, h├╣ng d┼⌐ng.

Mß╗╣ thuß║¡t hiß╗çn ─æß║íi Viß╗çt Nam ─æ├ú c├│ nhiß╗üu hoß║í s─⌐, nh├á ─æi├¬u khß║»c thß╗â hiß╗çn vß╗ü h├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a. Nhiß╗üu t├íc phß║⌐m c├│ gi├í trß╗ï nghß╗ç thuß║¡t cao, ti├¬u biß╗âu nh╞░ t├íc phß║⌐m ΓÇ£Gi├│ngΓÇ¥ cß╗ºa hoß║í s─⌐ Nguyß╗àn T╞░ Nghi├¬m s├íng t├íc 1990 vß╗¢i chß║Ñt liß╗çu s╞ín m├ái. T├íc phß║⌐m ─æ╞░ß╗úc c├┤ng nhß║¡n Bß║úo vß║¡t Quß╗æc gia n─âm 2017. Vß╗¢i ─æß╗ü t├ái n├áy, hoß║í s─⌐ ─æ├ú thß╗â hiß╗çn nhiß╗üu t├íc phß║⌐m c├╣ng mß╗Öt chß╗º ─æß╗ü, t├¬n gß╗ìi vß╗ü h├¼nh t╞░ß╗úng Th├ính Gi├│ng - mß╗Öt trong tß╗⌐ bß║Ñt tß╗¡ cß╗ºa v─ân ho├í ng╞░ß╗¥i Viß╗çt. Bß║▒ng c├ích x├óy dß╗▒ng cß║Ñu tr├║c theo phong c├ích lß║¡p thß╗â, kß║┐t hß╗úp vß╗¢i sß╗▒ khoß║╗ khoß║»n, gß║ºn g┼⌐i cß╗ºa mß╗╣ thuß║¡t d├ón gian. H├¼nh t╞░ß╗úng Ngß╗▒a v├á vß╗ï anh h├╣ng ─æ╞░ß╗úc c├ích ─æiß╗çu kh├íi qu├ít, to├ít l├¬n sß╗▒ khoß║╗ mß║ính, h├╣ng d┼⌐ng nh╞░ng kh├┤ng k├⌐m phß║ºn bay bß╗òng. Bß╗⌐c tranh ΓÇ£B├íc Hß╗ô ß╗ƒ chiß║┐n khu Viß╗çt Bß║»cΓÇ¥ cß╗ºa hß╗ìa s─⌐ D╞░╞íng B├¡ch Li├¬n ─æ├ú ─æ╞░ß╗úc c├┤ng nhß║¡n l├á Bß║úo vß║¡t Quß╗æc gia v├áo n─âm 2017 (hiß╗çn ─æang ─æ╞░ß╗úc l╞░u giß╗» tß║íi Bß║úo t├áng Mß╗╣ thuß║¡t Viß╗çt Nam). Trong kh├┤ng gian h├╣ng vß╗╣ cß╗ºa ├ính nß║»ng v├á n├║i rß╗½ng Viß╗çt Bß║»c, h├¼nh ß║únh B├íc Hß╗ô ─æang ├ón cß║ºn ch─âm s├│c, vuß╗æt ve ch├║ ngß╗▒a gß║»n liß╗ün vß╗¢i cuß╗Öc ─æß╗¥i c├ích mß║íng gian kh├│ cß╗ºa Ng╞░ß╗¥i. T├íc phß║⌐m ─æ├ú thß╗â hiß╗çn sß╗▒ giß║ún dß╗ï, gß║ºn g┼⌐i cß╗ºa vß╗ï l├únh tß╗Ñ v─⌐ ─æß║íi vß╗¢i cuß╗Öc sß╗æng, thi├¬n nhi├¬n. C├íc hoß║í s─⌐ Trß║ºn V─ân Cß║⌐n, T├┤ Ngß╗ìc V├ón, L╞░u V─ân S├¼nΓǪ c┼⌐ng ─æß╗üu c├│ c├íc t├íc phß║⌐m vß║╜ vß╗ü ngß╗▒a. Nhiß╗üu thß║┐ hß╗ç hoß║í s─⌐ Viß╗çt Nam ─æ├ú thß╗â hiß╗çn th├ánh c├┤ng vß╗ü h├¼nh t╞░ß╗úng n├áy, trß╗ƒ th├ánh phong c├ích ri├¬ng gß║»n vß╗¢i t├¡nh c├ích cß╗ºa ng╞░ß╗¥i nghß╗ç s─⌐. Ta c├│ thß╗â cß║úm nhß║¡n ─æ╞░ß╗úc sß╗▒ y├¬u mß║┐n vß║╗ ─æß║╣p v├╣ng cao vß╗¢i n├║i non, con ng╞░ß╗¥i m├á nhß╗»ng ch├║ ngß╗▒a ng├áy ng├áy cß║ºn mß║½n l├ám nhiß╗çm vß╗Ñ gi├║p ng╞░ß╗¥i d├ón v├╣ng cao vß║¡n chuyß╗ân h├áng ho├í, hay ß║⌐n lß║Ñp tß╗▒ t├¼nh c├╣ng tiß║┐ng kh├¿n ng╞░ß╗¥i HΓÇÖM├┤ng trong kh├┤ng gian h├╣ng vß╗╣ cß╗ºa n├║i rß╗½ng T├óy Bß║»c th├┤ng qua c├íc t├íc phß║⌐m cß╗ºa hoß║í s─⌐ ─Éß╗ù ─Éß╗⌐c. C┼⌐ng thß║Ñy ─æ╞░ß╗úc sß╗▒ ph├│ng t├║ng, bay bß╗òng nh╞░ng mß║ính mß║╜, tß╗▒ do cß╗ºa nhß╗»ng ch├║ ngß╗▒a ├┤, x├¡ch thß╗æ, bß║ích m├ú trong c├íc t├íc phß║⌐m cß╗ºa hoß║í s─⌐ L├¬ Tr├¡ D┼⌐ngΓǪ Cß║úm nhß║¡n ─æ╞░ß╗úc sß╗▒ t├ío bß║ío, kh├ít vß╗ìng tß╗▒ do, bß╗⌐t ph├í trong tranh ngß╗▒a cß╗ºa Nguyß╗àn ─Éoan Ninh v├á kh├┤ng ├¡t hoß║í s─⌐ kh├íc c├│ b├║t ph├íp, phong c├ích ri├¬ng khi khai th├íc ─æß╗ü t├ái ngß╗▒a.

Đặc biệt thú chơi tranh con giáp mỗi dịp Tết đến, xuân về. Giới mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã có truyền thống vẽ tranh con giáp từ thế hệ các hoạ sĩ Đông Dương đến nay. Ngựa xuân trong tranh con giáp của Nguyễn Tư Nghiêm mang nhiều màu sắc văn hoá, triết lý Á Đông, Bùi Xuân Phái với đường nét hồn nhiên gần gũi, Lê Trí Dũng chú ý biểu cảm dáng điệu tung tẩy, khoáng đạt với bảng màu nguyên sắc ngũ hành rực rỡ, Hứa Thanh Bình mang nhiều triết lý với phong cách biểu hiện, Phạm An Hải xoá nhoà ranh giới hiện thực với bút pháp bán trừu tượng, Phạm Hà Hải nhấn mạnh cấu trúc bằng đường nét khoẻ mạnh, dứt khoát khi vận dụng yếu tố mỹ thuật dân gian, Đặng Mậu Triết mơ màng trong không gian của thiên nhiên và nhiều tác phẩm khác của các hoạ sĩ Bắc-Trung-Nam được nhận ra trong nền mỹ thuật Việt Nam. Nhiều triển lãm tranh con giáp nhân năm Ngọ trên khắp mọi miền đất nước cho thấy sự phong phú, đa dạng trong cách thể hiện của hoạ sĩ ba miền. Ngày nay, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, công chúng vẫn thường xuyên được thưởng thức những tác phẩm mỹ thuật về hình tượng ngựa gắn liền với văn hoá, lịch sử và cuộc sống trên mọi miền Tổ quốc và trên thế giới.

Nß║┐u nh╞░ mß╗╣ thuß║¡t ph╞░╞íng T├óy thi├¬n vß╗ü mi├¬u tß║ú, thß╗â hiß╗çn sß╗▒ khoß║╗ mß║ính, rß║»n chß║»c tß╗½ng khß╗æi c╞í tr├¬n th├ón ngß╗▒a th├¼ ph╞░╞íng ─É├┤ng lß║íi mang tinh thß║ºn ╞░ß╗¢c lß╗ç, ch├║ ├╜ thß╗â hiß╗çn thß║ºn th├íi mang c├íc th├┤ng ─æiß╗çp, triß║┐t l├╜ cuß╗Öc sß╗æng. Mß║╖c d├╣ hiß╗çn nay vß╗¢i sß╗▒ giao thoa giß╗»a c├íc nß╗ün mß╗╣ thuß║¡t, kh├┤ng g├▓ b├│ vß╗ü phong c├ích, tr╞░ß╗¥ng ph├íi mß╗╣ thuß║¡t, tuy nhi├¬n khi vß║╜ ngß╗▒a ─æß╗â thß╗â hiß╗çn ─æ├║ng kh├¡ chß║Ñt, tinh thß║ºn cß╗ºa mß╗Öt con gi├íp ─æß║íi diß╗çn cho sß╗▒ may mß║»n, tß╗æc ─æß╗Ö, sß╗⌐c mß║ính v├á tß╗▒ do l├á kh├┤ng hß╗ü dß╗à. ─É├│ l├á mß╗Öt th├ích thß╗⌐c ─æß╗æi vß╗¢i mß╗ùi nghß╗ç s─⌐ tß║ío h├¼nh khi thß╗â hiß╗çn h├¼nh t╞░ß╗úng ngß╗▒a th├┤ng qua h├¼nh khß╗æi, ─æ╞░ß╗¥ng n├⌐t, m├áu sß║»c. 

Mỹ thuật Quảng Trị bước vào một giai đoạn mới với lực lượng sáng tác mỹ thuật đông đảo sau khi sáp nhập. Mỗi người một con đường, phong cách tạo hình và biểu đạt nghệ thuật riêng, trong đó có hình tượng về ngựa. Mặc dù không có hoạ sĩ, nhà điêu khắc chuyên khai thác đề tài này, nhưng cũng có một số tác giả đã thể hiện trong sáng tạo của mình như: Trương Đình Dung, Lê Quang Sáng, Lê Cảnh Oánh, Nguyễn Lương Sáng, Nguyễn Xuân Thành... Năm 2026 đã đến, hoạ sĩ, nhà điêu khắc Quảng Trị nói riêng và giới mỹ thuật cả nước nói chung lại bắt đầu chào đón Bính Ngọ bằng những nét cọ, mảng màu rực rỡ với ước vọng “Mã đáo thành công”.

N.S