☰
Giỽi thiệu A▼
Tin tß╗⌐cSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Dịch vụNg╞░ß╗¥i & ─Éß║Ñt qu├¬ h╞░╞íng
MultiMedia▼
Zalo

Chìm trong Nỗi nhỽ Trung đoàn

NGUYß╗äN THß║╛ T╞»ß╗£NG    10/01/2026    229
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân đội ta xuất hiện nhiều đơn vị chính quy với những chiến công và số phận huyền thoại. Điển hình là Tiểu đoàn 307, hay còn gọi là Ba Lẻ Bảy, hoạt động tại vùng Đồng Tháp Mười trong thời kỳ chống Pháp. Suốt chín năm, tiểu đoàn nổi danh nhờ khả năng xuất quỷ nhập thần, đánh đâu thắng đó cùng tinh thần dạ sắt, gan vàng khiến quân Pháp phải run sợ.
Ở chiến trường Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng xuất hiện một đơn vị huyền thoại: Trung đoàn 6 - Phú Xuân. Thành lập năm 1965, trung đoàn đứng chân mười năm trên miền Tây Trị Thiên, tham gia 2.828 trận lớn nhỏ. Thắng bại từng trận không thể đong đếm, nhưng trận cuối cùng đã định rõ số phận. Để giữ lá cờ “Hai lần Anh hùng Lực lượng vũ trang” làm chủ thành phố Huế trong 26 ngày đêm năm 1968, và cắm cờ trên kỳ đài Huế ngày 26/3/1975, trung đoàn đã phải hy sinh “mười trung đoàn” trong suốt mười năm chiến đấu, hơn 13.000 liệt sĩ, con số xấp xỉ mười lần biên chế một trung đoàn.

Sau n─âm 1975, nhß╗»ng cß╗▒u binh lß║ºn l╞░ß╗út giß║úi ng┼⌐, nh╞░ß╗¥ng chß╗ù cho mß╗Öt thß║┐ hß╗ç mß╗¢i tiß║┐p quß║ún v├á x├óy dß╗▒ng trung ─æo├án. Trong bß║Ñy nhi├¬u sß╗æ phß║¡n ─æ├ú ΓÇ£ra ─æiΓÇ¥ hay c├▓n sß╗æng s├│t suß╗æt gß║ºn 50 n─âm qua, c├│ mß╗Öt ng╞░ß╗¥i l├¡nh kh├┤ng giß╗æng nhiß╗üu ng╞░ß╗¥i kh├íc, ─æ├│ l├á Ho├áng ─É├¼nh B╞░ß╗¥ng. ├öng nguy├¬n l├á sinh vi├¬n ─æ├ú ho├án th├ánh ch╞░╞íng tr├¼nh ba n─âm tß║íi khoa V─ân, ─Éß║íi hß╗ìc S╞░ phß║ím Vinh, nhß║¡p ng┼⌐ v├áo ΓÇ£tiß╗âu ─æß╗Öi V─ân Sß╗¡ΓÇ¥ gß╗ôm 15 tay s├║ng bß╗ò sung cho Trung ─æo├án 6 - Ph├║ Xu├ón cuß╗æi n─âm 1970 v├á lß║¡p tß╗⌐c tham chiß║┐n. Nh╞░ lß╗¥i Tß╗æ Hß╗»u trong th╞í, nhß╗»ng ng╞░ß╗¥i l├¡nh tiß╗âu ─æß╗Öi ├┤ng ─æ├ú ΓÇ£chiß║┐n ─æß║Ñu 1.800 ng├áy kh├┤ng nghß╗ëΓÇ¥.

Sau tháng Tư năm 1975, kiểm lại, trong số 15 giáo viên Văn Sử tương lai ấy, 8 chiến sĩ hy sinh, 4 bị thương, ba người không trúng đạn nhưng khi trở về trường, sức khỏe cũng dặt dẹo và không hưởng thọ như người đời. Ông là một trong bốn thương binh nặng, nhưng vẫn trở về trường, gắng học xong chương trình năm cuối, ra trường, dạy học, lấy vợ sinh con, gánh vác cơm áo qua hàng chục năm đói kém, và cũng ít nhiều tiến bộ trong nghề nghiệp như trước. Chỉ trong 5 năm, từ người lính binh nhì, ông đã trở thành cán bộ chỉ huy đại đội trước khi xuất ngũ.

Một ngày, ký ức réo gọi, nhớ về đồng đội, nhớ về những năm tháng trận mạc; dường như suốt gần 50 năm qua, đêm đêm ông thường chìm trong nỗi nhớ trung đoàn. Ông tập hợp những bài thơ năm xưa viết trong chiến hào thấm máu, in thành tập và xuất bản, gây được tiếng vang. Nhưng thơ ngày xưa và cả bây giờ cũng dường như không tải nổi những tâm sự, những dòng hồi ức bom đạn chết chóc vẫn gầm thét trong đầu…

Bạch đầu quân sĩ tại

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

├öng t├¼m ─æß║┐n vß╗¢i v─ân xu├┤i, n╞íi hiß╗çn thß╗▒c lu├┤n bß╗Ång r├ít trong d├▓ng k├╜ ß╗⌐c, kh├┤ng c├▓n chß╗ù cho h╞░ cß║Ñu. Tß║¡p b├║t k├╜ Y├¬n ngß╗▒a sau cuß╗Öc chiß║┐n nh╞░ l├á tß╗òng phß╗ò cß╗ºa gß║ºn 30 trß║¡n ─æ├ính trong tß╗òng sß╗æ chß╗½ng tr─âm trß║¡n lß╗¢n nhß╗Å m├á ├┤ng ─æ├ú tham gia trong 5 n─âm nß╗¡a sau cß╗ºa cuß╗Öc chiß║┐n. Nhß╗»ng trang nhß║¡t k├╜ viß║┐t d╞░ß╗¢i hß╗Åa lß╗▒c bom ph├ío, trong giß╗¥ nghß╗ë giß╗»a hai ─æß╗út chß╗æng phß║ún k├¡ch, ─æ├ú l├ám n├¬n sß╗⌐c n├│ng cß╗ºa tß║¡p s├ích d├╣ ─æ├ú h╞ín 40 n─âm tr├┤i qua kß╗â tß╗½ ng├áy im tiß║┐ng s├║ng, v├á g├óy ─æ╞░ß╗úc tiß║┐ng vang lß╗¢n. Giß║úi B giß║úi th╞░ß╗ƒng V─ân hß╗ìc L╞░u Trß╗ìng L╞░ c├│ vß║╗ l├á qu├í ─æß╗º cho mß╗Öt c├óy b├║t ß╗ƒ tuß╗òi bß║úy m╞░╞íi, sß╗⌐c khß╗Åe ß╗ìp ß║╣p, lu├┤n bß╗ï vß║┐t th╞░╞íng h├ánh hß║í. ├öng tß╗½ng ngh─⌐ nh╞░ vß║¡y, v├á nhiß╗üu ng╞░ß╗¥i c┼⌐ng tß╗½ng tin nh╞░ vß║¡y.

Nh╞░ng mß╗Öt ng├áy, t├¼nh cß╗¥ mß╗ƒ lß║íi tß║¡p Y├¬n ngß╗▒a sau cuß╗Öc chiß║┐n, lß║¡t tß╗¢i lß║¡t lui, bß║»t gß║╖p c├óu v─ân cuß╗æi c├╣ng tr╞░ß╗¢c dß║Ñu chß║Ñm hß║┐t, t├┤i bß╗ùng b─ân kho─ân v├á m╞í hß╗ô ngh─⌐ rß║▒ng t├íc giß║ú ch╞░a thß╗â dß╗½ng lß║íi khi ch╞░aΓǪ thß╗ƒ hß║»t ra lß║ºn cuß╗æi c├╣ng. ─É├│ l├á, sau h╞ín bß╗æn m╞░╞íi n─âm, t├íc giß║ú t├¼m tß╗¢i nh├á trong ng├áy giß╗ù ─æß╗ông ─æß╗Öi, gß║╖p hai ng╞░ß╗¥i con g├íi liß╗çt s─⌐ ─æang l├ám c╞ím, v├á nhß║¡n ─æ╞░ß╗úc mß╗Öt c├óu hß╗Åi hß╗ôn nhi├¬n m├áΓǪ nß║╖ng nh╞░ n├║i: ΓÇ£R─âng ch├║ vß╗ü m├á kh├┤ng rß╗º Ba ch├íu vß╗ü vß╗¢i? ─Éß║┐n bß╗»a ni rß╗ôi m├á hai chß╗ï em ch├íu ch╞░a hß╗ü biß║┐t mß║╖t Ba!ΓÇ¥ΓǪ

Không sai. Một buổi chiều như bao buổi chiều mùa hè miền Trung. Khi cơn nóng dịu đi, ánh tà dương hắt hiu đang dần chìm xuống dãy Trường Sơn xa xa, người đàn ông 75 tuổi thập thững bước vào nhà tôi, không vui cũng không buồn, chìa ra tập bản thảo mà các bạn sắp đọc, nhờ tôi viết lời giới thiệu. Liệu tôi có thể từ chối chăng, khi tiếng lòng đau như chim Đỗ Quyên kêu ra máu, thương nhớ về Trung đoàn, của một cựu chiến binh (CCB), một cựu giáo chức đã dắt dìu hàng năm sáu trăm học sinh trung học phổ thông qua bến bờ văn chương? Đây, dường như còn là tiếng kêu cuối cùng của một con chim đại bàng, khi không còn đủ sức sải cánh trên bầu trời cao rộng.

Tß║¡p b├║t k├╜ Nß╗ùi niß╗üm Trung ─æo├án (Nxb Qu├ón ─æß╗Öi nh├ón d├ón, 2025) kh├┤ng c├▓n ─æß║╖c tß║ú nhß╗»ng trß║¡n ─æ├ính dß╗» dß╗Öi, n╞íi nhiß╗üu ng╞░ß╗¥i ß╗ƒ cß║ú hai b├¬n ng├ú xuß╗æng, m├á d╞░ß╗¥ng nh╞░ chß╗ë l├á ho├ái vß╗ìng v├á mß╗Ñc k├¡ch nhß╗»ng sß╗æ phß║¡n sau chiß║┐n tranh. Nh╞░ng tr╞░ß╗¢c hß║┐t, ─æ├│ l├á t├óm sß╗▒ cß╗ºa ng╞░ß╗¥i l├¡nh tr├¡ thß╗⌐c tr├¬n ─æ╞░ß╗¥ng ra trß║¡n, t├¼nh cß╗¥ gh├⌐ th─âm nh├á, hß╗ôn qu├¬ man m├íc v╞░╞íng vß║Ñn khi qua chuyß║┐n ─æ├▓ chiß╗üu hß╗æi hß║ú ─æuß╗òi theo ─æ╞ín vß╗ï.

Bến Phù Trịch lữ thứ

Chiều đi trong hồn tôi

Ngày về ai thầm nhắc

Hẹn chi thời chiến tranh

Kh├┤ng bi h├╣ng nh╞░ Kinh Kha qua s├┤ng Dß╗ïch Thß╗ºy nh╞░ng vß║½n phß║úng phß║Ñt mß╗Öt ch├║t tr├íng ca ΓÇ£Cß╗ò lai chinh chiß║┐n kß╗╖ nh├ón hß╗ôiΓÇ¥ trong ch├ón dung tr├íng s─⌐ cß╗ºa v─ân th╞í mß╗Öt thuß╗ƒ. ─É├│ l├á h├¼nh ß║únh ng├áy Tß║┐t cß╗ò truyß╗ün cß╗ºa d├ón tß╗Öc c├ích nay tr├▓n nß╗¡a thß║┐ kß╗╖, kh├┤ng phß║úi b├ính ch╞░ng b├ính t├⌐t, m├á l├á ΓÇ£─æ├ính chiß║┐m thß║¡t nhiß╗üu ─æß║Ñt ─æß╗â cß║»m cß╗¥ giß║úi ph├│ng, x├íc ─æß╗ïnh mß╗æc giß╗¢i chiß║┐n tuyß║┐nΓÇ¥ tr╞░ß╗¢c khi Hiß╗çp ─æß╗ïnh Pa-ri c├│ hiß╗çu lß╗▒c ng├áy 28/1/1973. ─É├│ l├á k├╜ ß╗⌐c vß╗ü nhß╗»ng ng├áy h├ánh qu├ón tr├¬n Tr╞░ß╗¥ng S╞ín, gß║╖p v├┤ sß╗æ v├╡ng l├¡nh mß║»c ven ─æ╞░ß╗¥ng: ΓÇ£C├│ nhß╗»ng c├ính v├╡ng rung giß║¡t ─æß║úo ─æi├¬n, biß║┐t chß║»c ng╞░ß╗¥i tr├¬n v├╡ng ─æang l├¬n c╞ín sß╗æt. ─Éa phß║ºn l├á v├╡ng kh├┤ng chuyß╗ân ─æß╗Öng, im l├¼m. Ng╞░ß╗¥i nß║▒m v├╡ng tr├╣m k├¡n ─æß║ºu, kh├┤ng thß╗â biß║┐t ─æ╞░ß╗úc c├▓n sß╗æng hay ─æ├ú chß║┐tΓÇ¥.

Có một điều hơi bất thường đối với Trung đoàn 6 - Phú Xuân là mặc dù hoạt động suốt mười năm trên địa bàn B5, nhưng chủ yếu ở miền Tây Thừa Thiên nên không được hưởng cái “chế độ” khá ưu đãi là “Cơm Bắc, giặc Nam”, nghĩa là đánh vài trận rồi vượt Hiền Lương ra Quảng Bình an dưỡng. Sự chịu đựng của người lính thật khó tưởng tượng: “Hơn một năm qua, tôi chưa hề biết đến ở hầm và sử dụng màn chống muỗi, vì luôn phải đánh nhau, luôn phải cắm trên các cao điểm trực diện với bộ binh địch, bom pháo nắng mưa dãi dầu. Người hốc hác quắt queo, râu tóc bờm xờm, già trước tuổi…”.

Chỉ có thể đọc sách của lính trận mới gặp được những trang văn cận cảnh, miêu tả những hoạt động “không giống ai,” đầy chất bi tráng: “Đào hầm huyệt trước giờ ra trận! Lần đầu tiên tôi nghe mệnh lệnh sét đánh này dưới chân dãy núi Sơn Na… Lẽ ra việc này lính hậu cần vận tải đảm nhiệm mới đúng, không nên cho lính tham chiến biết. Nhưng lính Trung đoàn 6 gần như không có lực lượng phục vụ chiến đấu. Lính trận kiêm luôn. Ai sẽ nằm xuống đáy huyệt, chỉ sau trận đánh mới rõ…”; “Khi hầm huyệt rộng khoảng năm tấc, dài hai mét, sâu quá đầu gối hình thành xong, ai cũng thở phào nhưng không hề nhẹ nhõm. Nhìn đi nhìn lại mấy cái hầm, người ớn lạnh, nổi da gà…” (Đào hầm huyệt)

Đương nhiên, để có một tác giả như Hoàng Đình Bường hôm nay - “Cánh tả kỷ cả bút đầu can” (viết đến hết giấy, khô mực) về cuộc chiến - thì ông đã không nằm vào đáy huyệt do chính mình đào trước mỗi trận đánh. Nhưng cảnh nằm trên thi thể đồng đội qua đêm thì không phải người lính trận nào cũng từng trải qua: “…Căn hầm bị thu hẹp, không chứa nổi bốn người. Chúng tôi cho tử sĩ nằm dọc theo hầm, chân thò ra phía cửa, phủ lên tấm vải bạt. Ba người đành nhắm mắt ngồi bên đó trong nỗi xót xa tột cùng. Pháo cấp tập, đất đá rào rào tạt vào hầm. Chúng tôi nín thở chờ… chết cùng đồng đội…” (Nằm bên cái chết).

Đọc văn của người lính trận, nguyên là sinh viên Văn sắp ra trường trên bục giảng, độc giả sẽ “lượm” được vô vàn chi tiết đắt giá về chiến tranh. Nhưng để có được một vài trang viết khả dĩ trong trẻo, ít nhiều phản ánh trung đoàn 6 - Phú Xuân, quả thật không dễ dàng. Trong nỗi nhớ Trung đoàn của Hoàng Đình Bường, có một trường đoạn như thế ngay giữa chiến trận.

Hiß╗çp ─æß╗ïnh Pa-ri ─æ╞░ß╗úc k├╜ kß║┐t, qu├ón ─æß╗Öi hai b├¬n giß╗» nguy├¬n vß╗ï tr├¡, ph├▓ng tuyß║┐n c├ích nhau n─âm bß║úy chß╗Ñc m├⌐t. ß╗₧ giß╗»a, dß╗▒ng l├¬n mß╗Öt c├íi b├án H├▓a hß╗úp. L├¡nh hai b├¬n kh├┤ng mang v┼⌐ kh├¡ c├│ thß╗â ─æß║┐nΓǪ giao l╞░u. K├╜ sß╗▒ ΓÇ£Th╞í Ho├áng Cß║ºm tr├¬n chß╗ætΓÇ¥ ghi lß║íi mß╗Öt khoß║únh khß║»c t╞░ß╗ƒng nh╞░ b├¼nh y├¬n tr├¬n ΓÇ£b├án H├▓a hß╗úp,ΓÇ¥ nh╞░ng thß╗▒c ra chß╗ë l├á khoß║úng lß║╖ng trong mß║»t b├úo. Giß╗»a hai trß║¡n tuyß║┐n, ─æß║ín ─æ├ú l├¬n n├▓ng, chß╗ë mß╗Öt ─æß╗Öng t├íc mß╗ƒ chß╗æt an to├án hay mß╗Öt h├ánh vi qu├í kh├¡ch cß╗ºa mß╗ùi b├¬n, ─æß║ín sß║╜ bay ra; vß║¡y m├á vß║½n c├│ mß╗Öt buß╗òi ΓÇ£b├¼nh v─ân v├┤ tiß╗ün kho├íng hß║¡uΓÇ¥ cß╗ºa ΓÇ£thß╗▒c tß║¡p sinhΓÇ¥ Ho├áng ─É├¼nh B╞░ß╗¥ng vß╗ü b├ái th╞í L├í di├¬u b├┤ng cß╗ºa thi s─⌐ Ho├áng Cß║ºm, thuyß║┐t phß╗Ñc v├á ─æ├ính bß║íi th├íi ─æß╗Ö khi├¬u kh├¡ch cß╗ºa s─⌐ quan t├óm l├╜ chiß║┐n ─æß╗æi ph╞░╞íng.

Đây có thể coi là giờ thực tập đầu đời của nhà giáo Hoàng Đình Bường. Khốn thay, “học trò” nghe bài giảng lại là hai anh lính VC trong tổ binh vận quân Giải phóng, cùng ba lính và sĩ quan tâm lý chiến phía quân lực VNCH. Lớp học tình cờ nằm giữa hai họng súng. Câu chuyện được kể lại khi CCB Hoàng Đình Bường, trong một lần đến Huế, gặp lại một trong ba người lính đối phương ấy trên bàn cà phê, trong một chiều mưa đầy thi vị.

Cây bút CCB, nhà giáo Hoàng Đình Bường, còn mạnh dạn khắc họa chân dung các tướng lĩnh hai bên: Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp - người mà tác giả tự nhận là vinh dự được chiến đấu dưới cờ, đồng nghiệp trong khối Văn - Sử (Đại tướng nguyên là thầy dạy môn Lịch sử); Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên trinh sát đặc công, đã sát cánh cùng ông trong đội hình Trung đoàn 6 - Phú Xuân; Trung tướng, Tư lệnh Quân khu Trương Đình Thanh, vị trung đoàn trưởng “huynh đệ chi binh” với lính trung đoàn suốt mười năm chinh chiến; và “Bại binh chi tướng” Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Sư đoàn Một, Vùng Chiến thuật Một, một đối thủ duyên nợ với Trung đoàn 6 - Phú Xuân ba năm cuối của cuộc chiến…

Cũng giống như Tiểu đoàn Ba Lẻ Bảy, Trung đoàn 6 - Phú Xuân được ngân lên trong giai điệu tự hào:

Vì Tổ quốc thân yêu ta vượt lên

Đoàn ta giương cao ngọn cờ oai hùng

Mùa xuân quân ta reo trên thành phố Huế kiên cường

Vì độc lập, vì tự do

Giục đoàn ta vượt qua phong ba

Trung đoàn sáu ta xông lên

Tác giả Hoàng Đình Bường kết thúc tập sách bằng hai câu thơ của nữ sĩ Nga trong chiến hào Leningrad: “Không có ai bị quên lãng/ Không có gì có thể lãng quên”. “Mười trung đoàn” đã nằm xuống để Trung đoàn hai lần cắm cờ trên kỳ đài Huế, hai lần anh hùng. Hơn một nửa số sinh viên trong Tiểu đội Văn Sử của ông không trở về giảng đường đại học. Như tên sách đã gợi, trang cuối sách kết thúc man mác buồn: “Ba mươi mốt tỉnh thành trên miền Bắc, hầu như tỉnh nào cũng có con em chiến đấu và hy sinh trong đội hình Trung đoàn 6 - Phú Xuân… nên mượn lời đồng đội gửi vào trang viết này mấy dòng hoài niệm, mong được thấu hiểu, chia sẻ nỗi niềm chung…”.

                                ─Éß╗ông Hß╗¢i - Quß║úng Trß╗ï 11/2025