☰
Giỽi thiệu A▼
Tin tß╗⌐cSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Dịch vụNg╞░ß╗¥i & ─Éß║Ñt qu├¬ h╞░╞íng
MultiMedia▼
Zalo

Tư duy liên căn phi tuyến tính

VÕ QUỐC VIỆT    17/05/2026    176
Tư duy liên căn phi tuyến tính (rhizomatic thinking) là một quan niệm được phát triển bởi triết gia người Pháp Gilles Deleuze và Félix Guattari - cộng sự thường xuyên của ông. Quan niệm này xuất hiện trong nhiều nghiên cứu của Deleuze nhưng chủ yếu được bàn luận trong trước tác A Thousand Plateaus: Capitalism and Schizophrenia (1980/1987). Rhizome, một thuật ngữ vốn thuộc lĩnh vực thực vật học, đề cập đến một mạng lưới rễ lan rộng theo chiều ngang (như tre hoặc gừng), đóng vai trò như phép ẩn dụ cho khung triết lý của họ. Deleuze và Guattari sử dụng hình tượng thân rễ (rhizome) để gợi mở cách tư duy. Hai ông đặt tư duy thân rễ và tư duy hình cây trong thế đối lập. Tư duy hình cây biểu hiện như hệ thống dẫn xuất từ rễ, gốc, thân, cành, nhánh, lá. Rễ cắm vào đất ở nơi xác định; theo đó hệ thống dẫn xuất tư tưởng như vậy cũng được xác định. Trái lại, tư duy thân rễ không có xu hướng hệ thống hóa, phân cấp hóa, và cố định hóa.

Tư duy liên căn phi tuyến tính

VÕ QUỐC VIỆT

 

1. Để xác định lối tư duy liên căn, như Deleuze và Guattari đề ra một cách tiên quyết, cần phân biệt giữa cái năng tri và cái năng tưởng. Năng tri là việc phân loại hóa, phạm trù hóa và căn tính hóa để tạo nên điều biết, kiến thức. Khi điều gì đó trở thành kiến thức, tức nó được xác định. Khi nó đã được phân loại hóa, phạm trù hóa và căn tính hóa; nó thành ra thuộc vào tập xác định khả tri của trí năng người. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là nó suy giảm khả năng khêu khích, kêu gọi tương tác trong suy nghĩ. Ta không còn cảm thấy phải thao tác trí năng với nó nữa, cũng không còn nhu cầu chế tác nó nữa. Từ đó, nó thành ra một thứ gì như đã được thiết lập sẵn và quen thuộc, nó nép mình vào trong căn tính đã được lập thành.

Trong khi đó, nghĩ tưởng được coi như khả thể. Nó là diễn trình hoàn toàn chủ động, năng sản, đang trong tư thế “đang là” và “khả dĩ”. Nhờ đó, nghĩ tưởng là quá trình mang tính sáng tạo và tiến hóa. Sự tiến hóa của nghĩ tưởng bao hàm trong nó sự lập thành tiến hóa, phản tư tiến hóa và tái thiết tiến hóa. Lối nghĩ tưởng như thế, ta đã bắt gặp trong sự phục hưng tinh thần nhân văn cổ đại của thời Phục Hưng, ngõ hòng chống lại giáo điều giáo hội, mà nhờ đó thời đại ấy phô nở vẻ đẹp rực rỡ của nhân tính. Một lần nữa, khi nhân văn Phục Hưng (gia cố bởi tinh thần duy lý Khai Sáng) dần trở nên xơ cứng thì tư duy ấy lại phục hưng tinh thần Phục Hưng để hướng đến thiết lập phản nhân bản luận; lấy đó làm điểm tựa tiến tới nhãn quan khác về nhân loại: trào lưu tư tưởng hậu nhân bản. Sở dĩ nó làm được như vậy, bởi nó không duy trì lối nghĩ tưởng một chiều, tuyến tính; trái lại nó vực mình tách ra khỏi và phản vấn. Nhờ đó, tư duy thành ra phi tuyến tính, và thông qua các kết nối khả dĩ hết sức đa dạng, đích đến của tư duy như vậy hoàn toàn không thể đoán trước. Theo nhận định của Deleuze và Guattari, sự nghĩ tưởng được xem như lành mạnh khi nó không thể xác định được điểm khởi đầu, điểm kết thúc; và ở bất kỳ điểm nào của dòng nghĩ tưởng như thế, người ta đều có thể khởi phát rẽ hướng nghĩ tưởng, đều có thể tách dòng để tạo thành mạng lưới vô biên nghĩ tưởng. Nghĩ tưởng lành mạnh là kiểu tư duy luôn luôn “đang lên đường”. Chẳng hạn, hành động trần thuật trong một số sáng tác Tiểu thuyết mới. Đường nghĩ tưởng với chiều hướng không định sẵn, mãi mãi là những điểm trung chuyển chứ không có điểm tận cùng; như hành trình lữ thứ vô biên, kiếp đời du mục mãi mãi, liên tục kết giao bằng hữu trên đường đi, liên tục đảo chiều đổi hướng. Nghĩ tưởng tức không thể không lưu đày xê dịch nghĩ tưởng. Trong văn bản, biểu hiện của nghĩ tưởng là sự năng sản, phân hạch liên tục thành đa tuyến tư duy, biểu hiện ra thành sự luận giải miên viễn vô biên. Sự luận giải như thế không hề nhắm đến một điểm đích “chân lý tri kiến” nào. Giá trị của nó ở chỗ liên tục phân hạch, liên tục luận giải. Đó là lối luận giải muôn đời phát tiết, vĩnh viễn phi thăng. Đó là lối tư duy liên căn phi tuyến tính.

2. T╞░ duy li├¬n c─ân phi tuyß║┐n t├¡nh (rhizomatic thinking) l├á mß╗Öt quan niß╗çm ─æ╞░ß╗úc ph├ít triß╗ân bß╗ƒi triß║┐t gia ng╞░ß╗¥i Ph├íp Gilles Deleuze v├á F├⌐lix Guattari - cß╗Öng sß╗▒ th╞░ß╗¥ng xuy├¬n cß╗ºa ├┤ng. Quan niß╗çm n├áy xuß║Ñt hiß╗çn trong nhiß╗üu nghi├¬n cß╗⌐u cß╗ºa Deleuze nh╞░ng chß╗º yß║┐u ─æ╞░ß╗úc b├án luß║¡n trong tr╞░ß╗¢c t├íc A Thousand Plateaus: Capitalism and Schizophrenia (1980/1987). Rhizome, mß╗Öt thuß║¡t ngß╗» vß╗æn thuß╗Öc l─⌐nh vß╗▒c thß╗▒c vß║¡t hß╗ìc, ─æß╗ü cß║¡p ─æß║┐n mß╗Öt mß║íng l╞░ß╗¢i rß╗à lan rß╗Öng theo chiß╗üu ngang (nh╞░ tre hoß║╖c gß╗½ng), ─æ├│ng vai tr├▓ nh╞░ ph├⌐p ß║⌐n dß╗Ñ cho khung triß║┐t l├╜ cß╗ºa hß╗ì. Deleuze v├á Guattari sß╗¡ dß╗Ñng h├¼nh t╞░ß╗úng th├ón rß╗à (rhizome) ─æß╗â gß╗úi mß╗ƒ c├ích t╞░ duy. Hai ├┤ng ─æß║╖t t╞░ duy th├ón rß╗à v├á t╞░ duy h├¼nh c├óy trong thß║┐ ─æß╗æi lß║¡p. T╞░ duy h├¼nh c├óy biß╗âu hiß╗çn nh╞░ hß╗ç thß╗æng dß║½n xuß║Ñt tß╗½ rß╗à, gß╗æc, th├ón, c├ánh, nh├ính, l├í. Rß╗à cß║»m v├áo ─æß║Ñt ß╗ƒ n╞íi x├íc ─æß╗ïnh; theo ─æ├│ hß╗ç thß╗æng dß║½n xuß║Ñt t╞░ t╞░ß╗ƒng nh╞░ vß║¡y c┼⌐ng ─æ╞░ß╗úc x├íc ─æß╗ïnh. Tr├íi lß║íi, t╞░ duy th├ón rß╗à kh├┤ng c├│ xu h╞░ß╗¢ng hß╗ç thß╗æng h├│a, ph├ón cß║Ñp h├│a, v├á cß╗æ ─æß╗ïnh h├│a. Todd May n├│i ─æß║┐n lo├ái sß║»n d├óy (kudzu) nh╞░ c├ích cß╗Ñ thß╗â h├│a quan niß╗çm cß╗ºa Deleuze v├á Guattari. Bß╗ƒi lo├ái sß║»n d├óy c├│ h├¼nh thß╗⌐c sinh sß║ún sinh d╞░ß╗íng; n├│ c├│ thß╗â mß╗ìc rß╗à ß╗ƒ mß╗ùi ─æß╗æt v├á c├│ thß╗â tß║ío n├¬n c├í thß╗â mß╗¢i tß╗½ th├ón rß╗à. N├│ c├│ thß╗â t├íi sinh v├á lu├ón chuyß╗ân ß╗ƒ bß║Ñt cß╗⌐ mß║Ñu/mß║»c/chß╗æt/─æß╗æt/─æiß╗âm t╞░ duy n├áo. Theo c├ích hiß╗âu cß╗ºa Deleuze, ΓÇ£n├│ c├│ thß╗â ─æ├óm rß╗à tß╗½ bß║Ñt kß╗│ ─æiß╗âm n├áo, nß║úy l├í v├á mß╗ìc chß╗ôi tß╗½ bß║Ñt kß╗│ ─æiß╗âm n├áo. N├│ kh├┤ng c├│ khß╗ƒi ─æß║ºu: kh├┤ng rß╗à. N├│ kh├┤ng c├│ ─æoß║ín giß╗»a: kh├┤ng th├ón. V├á n├│ kh├┤ng c├│ ─æiß╗âm kß║┐t th├║c: kh├┤ng ngß╗ìn. N├│ vß╗æn lu├┤n l╞░ng chß╗½ng, vß╗æn lu├┤n trong qu├í tr├¼nh. Kh├┤ng c├│ h├¼nh dß║íng cß╗Ñ thß╗â n├áo m├á n├│ phß║úi c├│ v├á kh├┤ng c├│ mß║únh ─æß║Ñt n├áo m├á n├│ phß║úi ch├┤n ch├ón. N├│ c├│ thß╗â kß║┐t nß╗æi tß╗½ bß║Ñt kß╗│ bß╗Ö phß║¡n n├áo cß╗ºa ch├¡nh n├│ vß╗¢i mß╗Öt c├íi c├óy, vß╗¢i nß╗ün ─æß║Ñt, vß╗¢i r├áo dß║¡u, vß╗¢i c├óy cß╗æi kh├íc, vß╗¢i ch├¡nh n├│ΓÇ¥. Thß║┐ n├¬n, t├┤i ─æ├ú gß╗ìi t├¬n thuß║¡t ngß╗» n├áy nh╞░ l├á ΓÇ£li├¬n c─ân phi tuyß║┐n t├¡nhΓÇ¥ ─æß╗â c├│ thß╗â phß║ún ├ính yß║┐u t├¡nh cß╗ºa h├¼nh thß╗⌐c t╞░ duy n├áy.

Để giải thích cho cách chuyển ngữ “liên căn phi tuyến tính”, tôi muốn dẫn lại Deleuze và Guattari: “Thân rễ không có điểm khởi đầu hay chấm dứt; nó vốn luôn lưng chừng, vốn luôn ở giữa muôn vật, liên hữu thể, liên biến chuyển. [Tư duy] hình cây thì phân nhánh, nhưng [tư duy] thân rễ thì liên giao/liên hợp, một liên giao/liên hợp độc đáo. Tư duy cây áp đặt động từ “là”, còn sự kết dệt thân rễ là liên từ, “và… và… và… ”. Liên từ này đủ sức làm rúng động và nhổ tận gốc động từ “là””. Theo như nhận định này, ta thấy tư duy cây bộc lộ tính hệ thống, dẫn xuất, tuyến tính và ràng buộc xác định. Nói khác, nó mang tính đặt để, áp chế, quy phạm. Nó có xu hướng thiết chế hóa, trung tâm hóa, độc tôn hóa. Tư duy cây có thể thấy qua ý chí bá quyền của thực dân - đế quốc; hoặc cách thế áp đặt ứng xử và luật chơi của các siêu cường. Ngược lại, tư duy liên căn không cô kết ở một (nhóm) khái niệm đơn lẻ; nghĩa là không có điểm nào như là trung tâm và trọng tâm; mà có thể bột phát truyền lan sinh triển từ bất cứ khái niệm nào; nó tăng sinh liên kết, tăng sinh khái niệm, tăng sinh tư tưởng. Tư duy cây tạo nên sinh thể chôn chân, cứng đọng; tư duy liên căn tạo nên sinh thể truyền lan, liên tục và đồng thời biến hóa sinh mệnh. Thế nhưng, điều này không có nghĩa tư duy hình cây và tư duy thân rễ/liên căn trong thế đối lập và tách rời nhau; ngược lại hai hình thái tư duy này không tách rời mà nội tạo lẫn nhau. Tư duy cây là tiền đề, là tiềm thể của tư duy liên căn; ngược lại, tư duy liên căn đòi hỏi, truy cầu, xui khiến kiến tạo tư duy cây. Mối tương quan này có thể thấy ở chỗ: giải cát cứ hóa (deterritorialization) vốn đã tàng ẩn trong việc cát cứ hóa (territorialization). Chính nhờ tương quan như thế, Deleuze và Guattari nhận thấy hai lối tư duy có khả năng giúp nhận thức và giải trừ độc tố của việc thiết chế hóa tư tưởng; nhất là trong thời đại hậu sự thật. Từ đó, việc này có thể vận dụng để tiếp cận nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau (triết học, văn học, văn hóa học, xã hội học,…).

Trong phß║ºn giß╗¢i thiß╗çu t╞░ duy li├¬n c─ân thuß╗Öc tr╞░ß╗¢c t├íc A Thousand Plateaus: Capitalism and schizophrenia, Deleuze v├á Guattari diß╗àn giß║úi c├ích thß║┐ tß╗ôn tß║íi si├¬u h├¼nh cß╗ºa cuß╗æn s├ích ─æß╗ông dß║íng vß╗¢i tß╗▒ nhi├¬n, ─æß╗ông dß║íng vß╗¢i thß║┐ giß╗¢i. Hai ├┤ng ph├ít hiß╗çn ra hß╗ç nhß╗ï nguy├¬n cß╗ºa lß╗æi t╞░ duy phß╗ò biß║┐n. Luß║¡n l├╜ nhß╗ï ph├ón l├á thß╗▒c tß║íi mang t├¡nh t├óm linh cß╗ºa c├óy-gß╗æc. Deleuze v├á Guattari ─æ╞░a ra quan niß╗çm th├┤ng qua viß╗çc v├¡ von tß╗ôn tß║íi si├¬u h├¼nh cß╗ºa cuß╗æn s├ích. Mß╗Öt cuß╗æn s├ích hay lß╗æi t╞░ duy: tß╗½ kiß╗âu t╞░ duy c├óy rß╗à cß╗ìc/rß╗à ch├╣m ─æß║┐n t╞░ duy th├ón rß╗à-li├¬n c─ân. ─É├║ng h╞ín, trong A Thousand Plateaus, hai ├┤ng ─æß╗ü xuß║Ñt ba lß╗æi t╞░ duy. Trong ─æ├│, t╞░ duy c├óy rß╗à ch├╣m, ΓÇ£rß╗à ch├¡nh/cß╗ìc ─æ├ú bß╗ï thui chß╗Öt, hoß║╖c ─æß║ºu rß╗à cß╗ºa n├│ ─æ├ú bß╗ï ph├í hß╗ºy; [tß║íi ─æß║ºu rß╗à thui chß╗Öt ─æ├│] mß╗Öt l╞░ß╗úng lß╗¢n rß╗à phß╗Ñ v├┤ hß║ín lß║¡p tß╗⌐c nß║úy ra v├á trß║úi qua qu├í tr├¼nh t─âng tr╞░ß╗ƒng mß║ính mß║╜. L├║c n├áy, thß╗▒c t├¡nh tß╗▒ nhi├¬n l├á c├íi ph├í hß╗ºy rß╗à ch├¡nh/cß╗ìc, nh╞░ng t├¡nh thß╗æng nhß║Ñt cß╗ºa gß╗æc rß╗à vß║½n c├▓n tß╗ôn tß║íi, d├╣ ─æ├ú qua hay ch╞░a tß╗¢i, d├╣ ├¡t hay nhiß╗üuΓÇ¥. Lß╗æi t╞░ duy n├áy cho thß║Ñy v├▓ng lu├ón chuyß╗ân hß╗ôi quy - sß╗▒ lan tß╗Åa t─âng sinh trong thß╗æng nhß║Ñt. Hai ├┤ng minh chß╗⌐ng t╞░ duy rß╗à ch├╣m qua lß╗¥i v─ân Joyce - nh╞░ lß╗¥i v─ân ─æ╞░ß╗úc thi triß╗ân nh╞░ thß╗â c├│ ΓÇ£nhiß╗üu gß╗æc rß╗àΓÇ¥, v├á nh╞░ thß║┐ n├│ ph├í vß╗í sß╗▒ thß╗æng nhß║Ñt tuyß║┐n t├¡nh cß╗ºa ng├┤n tß╗½, ─æß╗â tß╗½ ─æ├│ cho thß║Ñy t├¡nh thß╗æng nhß║Ñt tuß║ºn ho├án cß╗ºa c├óu, v─ân bß║ún v├á c├íi n─âng tri; t╞░╞íng tß╗▒ nhß╗»ng c├ích ng├┤n cß╗ºa Nietzsche ─æ├ú ph├í vß╗í t├¡nh thß╗æng nhß║Ñt tuyß║┐n t├¡nh cß╗ºa c├íi n─âng tri ─æß╗â gß╗úi l├¬n quy hß╗ôi v─⌐nh cß╗¡u, b├áy ra c├íi bß║Ñt khß║ú tri cß╗ºa n─âng t╞░ß╗ƒng. Nh╞░ng t├┤i ngh─⌐, c├│ vß║╗ nh╞░ hai ├┤ng ─æ├ú chß╗ë ra lß╗æi t╞░ duy rß╗à ch├╣m nh╞░ nß╗ù lß╗▒c ph├í vß╗í t├¡nh tuyß║┐n t├¡nh, nh╞░ng thß╗▒c ra n├│ ch╞░a ph├í vß╗í t├¡nh thß╗æng nhß║Ñt, kh├┤ng phß╗º nhß║¡n nß╗ù lß╗▒c nh╞░ng n├│ hß║│n c├▓n v╞░ß╗¢ng trong lß╗æi luß║¡n l├╜ nhß╗ï nguy├¬n. Thß╗▒c chß║Ñt, t╞░ duy rß╗à ch├╣m chß╗ë bß╗Öi ph├ón luß║¡n l├╜ nhß╗ï nguy├¬n cß╗ºa t╞░ duy rß╗à cß╗ìc.

Vượt qua lối suy nghĩ nhị nguyên tuyến tính một chiều, tư duy liên căn phi tuyến tính không phải một phát minh, càng không phải điều gì mới mẻ. Đóng góp của Deleuze và Guattari chính là việc nhắc nhớ ta quay trở lại lối tư duy thuần phác lành mạnh của trí năng người. Sức khỏe tư duy suy giảm nếu bị đặt trong tình thế thiết chế hóa, quy phạm hóa, phạm trù hóa, căn tính hóa. Và thêm đó, hai ông còn cho ta thấy “ý lực” nào đó đã khiến cho tư duy của ta trở nên nhị phân, tuyến tính, đơn phương, khiến ta sa lầy vào những cái bẫy diễn ngôn, đến mức ta không nhận ra quyền lực đằng sau diễn ngôn. Nó khiến thể trạng tư duy ta trở thành đám đông cùng hiệp sức gia cố cho huyền thoại nào đó. Điều dễ thấy trong đời sống cá nhân mỗi người, với cái đà xã hội tiêu thụ giải trí được trợ lực bởi truyền thông đa-liên-xuyên-tân phương tiện, chúng ta ngày càng lao mình về phía giành ăn, giành ở, giành mặc, giành nói, giành sự chú ý. Quyền lực của diễn ngôn ngày càng hùng mạnh hơn, bởi nó đã duy trì được lối tư duy tuyến tính một chiều, và nó khiến tư duy ấy dần dà mất khả năng tự xoay chiều/tự vận động, dần dà trở nên trì độn mòn ruỗng chức năng. Chủ thể tính trong thời đại hậu sự thật và tư bản giám sát - đặc trưng của xã hội phương Tây - đang bị thách thức tận gốc rễ bản thể. Nhận thức này kêu gọi mỗi cá nhân tự bảo vệ sự lành mạnh của tư duy mình; hãy bảo vệ sức khỏe tinh thần bản thân, nhất là trong thời buổi trí năng nhân tạo hiện diện mọi ngóc ngách đời sống.

Quyền lực của diễn ngôn ngày càng hùng mạnh hơn, bởi nó đã duy trì được lối tư duy tuyến tính một chiều, và nó khiến tư duy ấy dần dà mất khả năng tự xoay chiều/tự vận động, dần dà trở nên trì độn mòn ruỗng chức năng. Chủ thể tính trong thời đại hậu sự thật và tư bản giám sát - đặc trưng của xã hội phương Tây - đang bị thách thức tận gốc rễ bản thể. Nhận thức này kêu gọi mỗi cá nhân tự bảo vệ sự lành mạnh của tư duy mình; hãy bảo vệ sức khỏe tinh thần bản thân, nhất là trong thời buổi trí năng nhân tạo hiện diện mọi ngóc ngách đời sống.

3. Nhưng cốt tủy nguyên nhân gây xói mòn tri nhận và “rễ cọc hóa” tư duy không phải bởi thực thể thông minh nhân tạo, cũng không phải tác nhân công nghệ mới nổi. Đến đây, tôi muốn nhắc lại lời của Heidegger:

“Mối đe dọa trước hết đối với con người không đến từ những cỗ máy và thiết bị công nghệ tiềm ẩn nguy cơ gây chết người. Mối đe dọa thực sự vốn luôn ảnh hưởng đến con người nằm ngay tại chính bản tính người. Chính ý lực quyền quản hình thái hóa (Enframing/ Gestell) đe dọa con người; nó đe dọa bằng khả năng ngăn cản con người tiến nhập vào sự khải thị uyên ủy hơn, và theo đó ngăn cản con người nghiệm chứng tiếng gọi của chân lý uyên nguyên hơn. Thế nên, hễ ở đâu ý lực hình thái hóa của công nghệ ngự trị thì nơi đó hiểm nguy dâng lên cực độ”.

Ch├¡nh tß║íi ─æ├óy, trang v─ân trß╗ƒ th├ánh miß╗ün t╞░ t╞░ß╗ƒng c├│ khß║ú n─âng kh├íng cß╗▒ lß╗▒c h├¼nh th├íi h├│a cß╗ºa c├┤ng nghß╗ç; bß║▒ng c├ích h├¼nh th├ánh, bß╗ôi ─æß║»p v├á dung d╞░ß╗íng lß╗æi t╞░ duy khß╗Åe khoß║»n ─æß║ºy t├¡nh s├íng tß║ío; c┼⌐ng nh╞░ miß╗ün t╞░ t╞░ß╗ƒng r├¿n gi┼⌐a cho t├óm hß╗ôn con ng╞░ß╗¥i c├│ khß║ú n─âng tiß║┐n nhß║¡p khß║úi thß╗ï uy├¬n ß╗ºy; ─æß╗â ta nghe ra tiß║┐ng gß╗ìi v─⌐nh cß╗¡u cß╗ºa ch├¡nh linh hß╗ôn m├¼nh. Thß╗▒c h├ánh s├íng tß║ío c├▓n l├á ß║Ñn chß╗⌐ng cho trß║úi nghiß╗çm ng╞░ß╗¥i sß╗æng ─æß╗Öng. Thß║┐ n├¬n, chß╗º thß╗â s├íng tß║ío v├á chß╗º thß╗â tiß║┐p nhß║¡n ─æß╗ông thß╗¥i thß╗▒c thi ├╜ ch├¡ tß╗▒ do khi hß╗Öi giao tr├¬n trang v─ân. Bß║▒ng thß╗▒c h├ánh s├íng tß║ío nh╞░ thß║┐, ├╜ ch├¡ tß╗▒ do ß║Ñn chß╗⌐ng cho trß║úi nghiß╗çm chß╗º thß╗â t├¡nh, c┼⌐ng tß╗⌐c l├á trß║úi nghiß╗çm lß║¡p th├ánh nh├ón t├¡nh. Do ─æ├│, c├│ thß╗â n├│i, sß╗⌐c mß║ính cß╗ºa trang v─ân nß║▒m ß╗ƒ chß╗ù chß╗æng lß║íi sß╗▒ suy giß║úm khß║ú n─âng tri nhß║¡n v├á chß╗æng lß║íi sß╗▒ x├│i m├▓n nh├ón t├¡nh. Nhß║Ñt l├á, ΓÇ£Trong nß╗ün v─ân h├│a bß╗ï m├ú h├│a ─æß║ºy th├ích thß╗⌐c vß╗æn vß║½n ─æ╞░ß╗úc cho l├á tß╗▒ do nhß╗¥ c├┤ng nghß╗ç, ch├║ng ta ─æ├ú bß╗ï dß║½n ─æß║ío mß╗Öt c├ích chu ─æ├ío ─æß║┐n kiß╗âu nhß║¡n thß╗⌐c mß╗¢i: ta nh├¼n nh╞░ mß╗Öt thuß║¡t to├ín, ta cß║úm nh╞░ d├▓ng dß╗» liß╗çu, ta ngh─⌐ nh╞░ m├íy ph├ón t├¡ch [th├┤ng tin], vß╗¢i chß╗º thß╗â t├¡nh chß║│ng kh├íc g├¼ c├íi m├íy bay kh├┤ng ng╞░ß╗¥i l├íi - bß╗ï xu├┤i khiß║┐n bß╗ƒi tß╗æc ─æß╗Ö kß║┐t nß╗æi vß╗¢i hß╗Åa nh├ún kim tinh chß║│ng kh├íc g├¼ cß╗ù m├íy truy vß║┐t; bß╗ï c├ím dß╗ù phß║úi moi ra ph╞íi trß║ºn hß║┐t thß║⌐y l├▓ng dß║í ruß╗Öt gan c├áng nhiß╗üu c├áng tß╗æt vß╗¢i sß╗▒ ch├║ t├óm lan truyß╗ün chß║│ng kh├íc g├¼ ─æ├ím ─æ├┤ng nhß║úy flashmob cß║⌐u thß║ú, v├á ta ─æß╗â hß╗ôn ch├¼m ─æß║»m trong t├¼nh nß╗ông m├¬ li cß╗ºa h├áng ng├án b├¿ bß║ín xa x├┤i, nh╞░ng chß║│ng c├│ nß╗òi mß╗æi th├ón t├¼nh gß║ºn g┼⌐i tr╞░ß╗¢c mß║╖tΓÇ¥.

Giữa guồng quay mã hóa xã hội đương thời, con người cần một phương thức chữa lành những tổn thương của tâm hồn. Như một hệ lụy của vòng vây ma trận truyền thông nhiễu loạn tinh thần, con người cần một không gian đủ để hít thở và nghĩ tưởng như một sinh thể biết long lanh đôi mắt, biết nồng nàn đôi môi và biết thắt thẻo trái tim nóng hổi. Thế nên, hãy dấn thân vào trang văn, hãy chan sớt tâm hồn mình vào trang thơ, để ánh mắt và nhịp tim phập phồng cùng những rung cảm văn thi sĩ muôn đời. Bằng cách đó, ta có thể giữ lại phần hồn nguyên thủy - tấm linh hồn ấn chứng cho một con người chân phương thuần túy. Giữa thời đại bị trung gian hóa ngày càng sâu sắc bởi thiết bị công nghệ thì những đụng chạm nồng ấm của xác phàm, những giao cảm mê ly của hồn người trở nên quý giá như vàng ngọc!

Rừng Dầu, tháng 12/2025

V.Q.V