☰
Giỽi thiệu A▼
Tin tß╗⌐cSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Dịch vụNg╞░ß╗¥i & ─Éß║Ñt qu├¬ h╞░╞íng
MultiMedia▼
Zalo

Phê bình như là tự truyện

HOÀNG ĐĂNG KHOA    10/01/2026    361
Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết & đọc chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này: “Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi. (...) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi”.

V├á khi nh├¼n rß║Ñt l├óu v├áo t├¬n cuß╗æn s├ích mß╗¢i nhß║Ñt cß╗ºa Trß╗ïnh Lß╗» - Vß║╜ g├¼ c┼⌐ng l├á tß╗▒ hß╗ìa - th├¼ th├¬m lß║ºn nß╗»a cß╗ºng cß╗æ trong t├┤i x├íc t├¡n: ph├¬ b├¼nh v─ân hß╗ìc c┼⌐ng l├á tß╗▒ truyß╗çn - tß╗▒ truyß╗çn cß╗ºa nh├á ph├¬ b├¼nh.

Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người phê bình - người làm công việc lí giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ thuật, thì phê bình - tưởng như thuần lí trí và khách quan - cũng ẩn chứa trong đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện, nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội tâm được cổ xúy và tôn trọng.

Trước hết, phê bình cũng là tự sự

Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với thế giới, trình hiện chính mình.

Trong th╞░ Ban bi├¬n tß║¡p Viß║┐t & ─æß╗ìc chuy├¬n ─æß╗ü m├╣a thu 2018, nh├á th╞í Nguyß╗àn Quang Thiß╗üu tß╗▒ sß╗▒: ΓÇ£Chuy├¬n ─æß╗ü Viß║┐t & ─æß╗ìc ra ─æß╗¥i chß╗ë nh╞░ mß╗Öt nß╗ù lß╗▒c dß╗▒ng l├¬n mß╗Öt ng├┤i nh├á nhß╗Å cho nhß╗»ng ng╞░ß╗¥i kß╗â chuyß╗çn ch├ón ch├¡nh cß╗ºa thß║┐ gian b╞░ß╗¢c v├áo, nh├│m l├¬n ngß╗ìn lß╗¡a v├á cß║Ñt tiß║┐ng. Mß╗ùi mß╗Öt nh├á v─ân, nh├á th╞í, mß╗ùi mß╗Öt hß╗ìa s─⌐, mß╗ùi mß╗Öt nh├á nghi├¬n cß╗⌐u, mß╗ùi mß╗Öt nh├á b├ío, mß╗ùi mß╗Öt ng╞░ß╗¥i giß║úng dß║íy trong nh├á tr╞░ß╗¥ngΓǪ v├á mß╗ùi mß╗Öt bß║ín ─æß╗ìc ch├¡nh l├á mß╗Öt ng╞░ß╗¥i kß╗â chuyß╗çn cß╗ºa thß║┐ gian n├áy. Kh├┤ng c├▓n c├ích n├áo kh├íc, tß║Ñt cß║ú ch├║ng ta h├úy b╞░ß╗¢c ─æi v├á cß║Ñt tiß║┐ng vß╗ü nhß╗»ng ─æiß╗üu tß╗æt ─æß║╣p ─æang bß╗ï v├╣i lß║Ñp bß╗ƒi ch├¡nh con ng╞░ß╗¥iΓÇ¥. 

Nh├á ph├¬ b├¼nh ─æß╗ông thß╗¥i l├á nh├á v─ân ng╞░ß╗¥i ├¥ Umberto Eco tß╗½ng chia sß║╗, chß╗ë sau khi viß║┐t xong tiß╗âu thuyß║┐t ─æß║ºu tay kh├í l├óu ├┤ng mß╗¢i nhß║¡n ra rß║▒ng tß║Ñt cß║ú nhß╗»ng t├íc phß║⌐m ph├¬ b├¼nh cß╗ºa ├┤ng tß╗▒ th├ón ch├║ng ─æ├ú mang t├¡nh tß╗▒ sß╗▒. Sau ─æ├│ ├┤ng hay n├│i ─æ├╣a rß║▒ng ├┤ng ─æ├ú bß║»t ─æß║ºu viß║┐t tiß╗âu luß║¡n vß╗¢i T├¬n cß╗ºa ─æ├│a hß╗ông, tr╞░ß╗¢c ─æ├│ ├┤ng chß╗ë viß║┐t tiß╗âu thuyß║┐t nh╞░ T├íc phß║⌐m mß╗ƒ hoß║╖c Cß║Ñu tr├║c thiß║┐u hay nhß╗»ng cuß╗æn kh├íc. Nh╞░ng n├│i mß╗Öt c├ích nghi├¬m t├║c, ├┤ng lu├┤n lu├┤n muß╗æn kß╗â chuyß╗çn, ngay cß║ú khi chß║Ñp b├║t c├íc c├┤ng tr├¼nh khoa hß╗ìc: ΓÇ£T├┤i kß╗â chuyß╗çn, v├¼ t├┤i ─æ├ú kß╗â v├┤ khß╗æi chuyß╗çn cho c├íc con t├┤i hß╗ôi ch├║ng c├▓n b├⌐, do vß║¡y viß╗çc lß║Ñy c├óu chuyß╗çn l├ám trung t├óm ─æ├ú thß║Ñm v├áo t├┤i. Rß╗ôi nhiß╗üu n─âm sau n├áy bß╗ùng nhi├¬n t├┤i thß║Ñy muß╗æn thay ─æß╗òi ph╞░╞íng thß╗⌐c kß╗â chuyß╗çn ─æ├ú quen cß╗ºa m├¼nh. Kh├┤ng phß║úi l├á t├┤i ─æß╗òi tß╗½ kh├┤ng viß║┐t tß╗▒ sß╗▒ sang viß║┐t tß╗▒ sß╗▒, m├á ─æ╞ín giß║ún chß╗ë l├á thay ─æß╗òi c├ích kß╗â chuyß╗çn. Nhß╗»ng cuß╗æn tiß╗âu thuyß║┐t ─æß║ºu ti├¬n cß╗ºa t├┤i ─æ├ú ra ─æß╗¥i nh╞░ thß║┐ΓÇ¥. 

Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh: phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện của chính mình.

Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó - bằng những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…

Ph├¬ b├¼nh, nh╞░ vß║¡y, l├á mß╗Öt dß║íng nhß║¡t k├¡ ─æß╗ìc v├á sß╗æng, l├á mß╗Öt c├ích nh├á ph├¬ b├¼nh l╞░u giß╗» lß║íi nhß╗»ng ─æiß╗üu chß║ím v├áo m├¼nh. Khi ß║Ñy, ph├¬ b├¼nh kh├┤ng cao giß╗ìng giß║úng giß║úi dß║íy dß╗ù, m├á b├¼nh thß║ún thß╗º thß╗ë kß╗â chuyß╗çn: vß╗ü ─æß╗æi t╞░ß╗úng ph├¬ b├¼nh, v├á qua ─æ├│, vß╗ü ch├¡nh chß╗º thß╗â ph├¬ b├¼nh. L├║c n├áy, tß╗▒ sß╗▒ c┼⌐ng l├á tß╗▒ truyß╗çn.  

Phê bình và tự truyện - tưởng khác mà gần

Ph├¬ b├¼nh l├á mß╗Öt hoß║ít ─æß╗Öng t╞░ duy c├│ t├¡nh khoa hß╗ìc, nhß║▒m ph├ón t├¡ch, l├¡ giß║úi v├á ─æß╗ïnh h╞░ß╗¢ng gi├í trß╗ï cß╗ºa mß╗Öt hiß╗çn t╞░ß╗úng v─ân hß╗ìc. Tß╗▒ truyß╗çn, ng╞░ß╗úc lß║íi, l├á h├¼nh thß╗⌐c ng╞░ß╗¥i viß║┐t kß╗â lß║íi cuß╗Öc ─æß╗¥i, cß║úm x├║c, quan ─æiß╗âm cß╗ºa ch├¡nh m├¼nh - n╞íi c├íi t├┤i ─æ╞░ß╗úc ─æß║╖t ß╗ƒ trung t├óm. Nh╞░ng th├║ vß╗ï thay, trong nhß╗»ng b├ái ph├¬ b├¼nh t╞░ß╗ƒng nh╞░ kh├ích quan v├á ΓÇ£lß║ínhΓÇ¥, c├íi t├┤i cß╗ºa ng╞░ß╗¥i viß║┐t vß║½n hiß╗ân thß╗ï sinh ─æß╗Öng. Khi mß╗Öt nh├á ph├¬ b├¼nh lß╗▒a chß╗ìn v├á ─æ╞░a ra nhß║¡n ─æß╗ïnh vß╗ü mß╗Öt hiß╗çn t╞░ß╗úng v─ân hß╗ìc, hß╗ì kh├┤ng chß╗ë n├│i vß╗ü hiß╗çn t╞░ß╗úng v─ân hß╗ìc ─æ├│, m├á ─æß╗ông thß╗¥i h├⌐ lß╗Ö hß╗ç gi├í trß╗ï, quan ─æiß╗âm thß║⌐m m─⌐, vß╗æn sß╗æng v├á cß║ú t├óm thß╗⌐c cß╗ºa ch├¡nh m├¼nh. N├│i c├ích kh├íc, ng╞░ß╗¥i ph├¬ b├¼nh kh├┤ng thß╗â tho├ít khß╗Åi c├íi b├│ng cß╗ºa ch├¡nh hß╗ì trong khi nh├¼n v├áo ng╞░ß╗¥i kh├íc - v├á ─æ├│ l├á l├║c ph├¬ b├¼nh trß╗ƒ th├ánh mß╗Öt dß║íng ΓÇ£tß╗▒ truyß╗çn gi├ín tiß║┐pΓÇ¥: ng╞░ß╗¥i n├áy thi├¬n vß╗ü ΓÇ£lß║Ñy hß╗ôn ta ─æß╗â hiß╗âu hß╗ôn ng╞░ß╗¥iΓÇ¥, ng╞░ß╗¥i kh├íc lß║íi thi├¬n vß╗ü d├╣ng l├¡ t├¡nh, t╞░ duy logic ─æß╗â giß║úi phß║½u nhß╗»ng k─⌐ thuß║¡t thuß╗Öc vß╗ü mß║╖t h├¼nh thß╗⌐c cß╗ºa v─ân bß║ún; ng╞░ß╗¥i n├áy bß╗ï h├║t cuß╗æn bß╗ƒi hß║Ñp lß╗▒c cß╗ºa nß╗ùi buß╗ôn niß╗üm ─æau n╞íi t├íc phß║⌐m, ng╞░ß╗¥i kh├íc lß║íi chß╗ë muß╗æn ─æß╗ìc nhß╗»ng c├íi viß║┐t nhß║╣ nh├╡m vui t╞░╞íiΓǪ Ngh─⌐a l├á, cß╗⌐ xem nh├á ph├¬ b├¼nh chß╗ìn ─æß╗ìc g├¼ v├á ─æß╗ìc nh╞░ thß║┐ n├áo, ta sß║╜ ─æß╗ïnh danh ─æ╞░ß╗úc hß╗ì. 

Vß╗¢i Thi nh├ón Viß╗çt Nam, Ho├ái Thanh kh├┤ng chß╗ë l├á mß╗Öt ng╞░ß╗¥i s╞░u tß║ºm v├á ph├ón loß║íi th╞í cß╗ºa phong tr├áo Th╞í mß╗¢i, m├á c├▓n l├á mß╗Öt ΓÇ£thi s─⌐ trong vß╗Å bß╗ìc nh├á ph├¬ b├¼nhΓÇ¥. C├ích ├┤ng lß╗▒a chß╗ìn th╞í, trß╗½u xuß║Ñt tß╗½ng hß╗ôn th╞íΓǪ phß║ún ├ính mß╗Öt c├íi t├┤i ph├¬ b├¼nh m╞í mß╗Öng duy cß║úm duy m─⌐. Ph├¬ b├¼nh kiß╗âu Ho├ái Thanh kh├┤ng chß╗ë gi├║p ta th├┤ng hiß╗âu Th╞í mß╗¢i, m├á c├▓n ph╞íi mß╗ƒ bß║ún ─æß╗ô t├óm hß╗ôn nh├á ph├¬ b├¼nh vß╗¢i khung thß║⌐m m─⌐, vß╗¢i ΓÇ£trß╗▒c gi├ícΓÇ¥, ΓÇ£ß║Ñn t╞░ß╗úngΓÇ¥ΓǪ ri├¬ng t├óy. 

Nh├á v─ân Viß╗çt Nam hiß╗çn ─æß║íi - ch├ón dung v├á phong c├ích cß╗ºa Nguyß╗àn ─É─âng Mß║ính l├á mß╗Öt ΓÇ£tß╗▒ truyß╗çn hß╗ìc thuß║¡tΓÇ¥ ─æ╞░ß╗úc viß║┐t bß║▒ng ch├¡nh trß║úi nghiß╗çm c├í nh├ón cß╗ºa nh├á ph├¬ b├¼nh vß╗¢i v─ân ch╞░╞íng v├á ─æß╗¥i sß╗æng.

Nh├á v─ân, nh├á ph├¬ b├¼nh ng╞░ß╗¥i Thß╗ò Nh─⌐ Kß╗│ Orhan Pamuk (Nobel v─ân ch╞░╞íng 2006) tß╗½ng chia sß║╗, mß╗Öt m├╣a h├¿ khi mang cuß╗æn s├ích Tu viß╗çn th├ánh Parme cß╗ºa nh├á v─ân ng╞░ß╗¥i Ph├íp Stendhal theo ng╞░ß╗¥i, nhiß╗üu lß║ºn ├┤ng tß╗▒ hß╗Åi tß║íi sao chß╗ë cß║ºn biß║┐t cuß╗æn s├ích ß╗ƒ b├¬n ─æ├ú thß║Ñy kho├íi nh╞░ vß║¡y, v├á th├┤i th├║c ├┤ng n├│i vß╗ü cuß╗æn s├ích - niß╗üm vui th├║ ─æ├│ cß╗ºa m├¼nh. Khi ch├¼m ─æß║»m tuyß╗çt ─æß╗æi v├áo t├óm hß╗ôn cuß╗æn s├ích, ├┤ng thß║Ñy nh╞░ thß╗â t├íc giß║ú cß╗ºa n├│ thß║ºm th├¼ to├án bß╗Ö sß╗▒ th├┤ng th├íi v├áo tai ├┤ng, chia sß║╗ nhß╗»ng sß╗▒ nhß╗»ng niß╗üm chß╗ë cho ri├¬ng ├┤ng. ├öng x├║c ─æß╗Öng bß╗Öc gi├úi: ΓÇ£─Éß║┐n gß║ºn nh╞░ vß║¡y trong tr├¡ ├│c v├á tinh thß║ºn cß╗ºa mß╗Öt nh├á v─ân rß╗í r├áng d╞░ß╗¥ng n├áy gi├║p t├┤i tß╗▒ tin, v├á nhß╗¥ ─æ├│, nh╞░ vß╗¢i mß╗ìi ng╞░ß╗¥i hß║ính ph├║c kh├íc, niß╗üm tß╗▒ t├┤n trong t├┤i d├óng tr├áoΓÇ¥.

Nhß╗»ng m├áu kh├íc l├á tuyß╗ân tß║¡p tß║ún v─ân, diß╗àn v─ân, tiß╗âu luß║¡n ─æ╞░ß╗úc Orhan Pamuk chß╗º ├╜ tß║¡p hß╗úp ─æß╗â tß║ío th├ánh mß╗Öt cuß╗æn s├ích ho├án to├án mß╗¢i lß║Ñy yß║┐u tß╗æ tß╗▒ truyß╗çn l├ám trung t├óm. Nhß╗»ng b├ái ph├¬ b├¼nh xuß║Ñt hiß╗çn trong ─æ├óy ß╗ƒ c├íc phß║ºn t├ích biß╗çt nh╞░ mß╗Öt chuß╗ùi ph├ón mß║únh ─æß╗â phß║ún ├ính c├╣ng mß╗Öt c├óu chuyß╗çn mang t├¡nh tß╗▒ truyß╗çn cß╗ºa cuß╗æn s├ích. N├│i vß╗ü Istanbul, hay b├án luß║¡n vß╗ü c├íc cuß╗æn s├ích, t├íc giß║ú, bß╗⌐c tranh m├á bß║ún th├ón y├¬u th├¡ch nhß║Ñt, vß╗¢i Orhan Pamuk lu├┤n lu├┤n l├á mß╗Öt c├íi cß╗¢ ─æß╗â n├│i vß╗ü cuß╗Öc ─æß╗¥i. Phß║ºn ΓÇ£Nh├¼n ra cß╗¡a sß╗òΓÇ¥, c├óu chuyß╗çn ß╗ƒ cuß╗æi s├ích, theo ├┤ng, mang t├¡nh chß║Ñt tß╗▒ truyß╗çn mß║ính ─æß║┐n nß╗ùi t├¬n nh├ón vß║¡t rß║Ñt c├│ thß╗â l├á Orhan Pamuk. Khi soß║ín cuß╗æn s├ích n├áy ├┤ng b├áng ho├áng nhß║¡n ra bß║ún th├ón c├│ mß╗æi quan t├óm ─æß║╖c biß╗çt v├á khuynh h╞░ß╗¢ng thi├¬n vß╗ü c├íc thß║úm hß╗ìa tß╗▒ nhi├¬n (─æß╗Öng ─æß║Ñt) v├á thß║úm hß╗ìa x├ú hß╗Öi (ch├¡nh trß╗ï). ├öng lu├┤n lu├┤n tin rß║▒ng ß║»t phß║úi c├│ mß╗Öt kß║╗ cuß╗ông viß║┐t tham lam v├á gß║ºn nh╞░ kh├┤ng thß╗â lay chuyß╗ân th╞░ß╗¥ng tr├║ trong bß║ún th├ón - ΓÇ£mß╗Öt sinh vß║¡t kh├┤ng thß╗â bao giß╗¥ viß║┐t cho ─æß╗º, kß║╗ l├║c n├áo c┼⌐ng biß║┐n cuß╗Öc sß╗æng th├ánh tß╗½ ngß╗»ΓÇ¥ - v├á ─æß╗â cho hß║»n ta vui l├▓ng ├┤ng cß║ºn phß║úi tiß║┐p tß╗Ñc viß║┐t. ─É├óy l├á cuß╗æn s├ích ─æ╞░ß╗úc ─æß║╖t trong mß╗Öt c├íi khung ─æß╗â gß╗úi ra mß╗Öt trung t├óm m├á ├┤ng cß╗æ gß║»ng che giß║Ñu. Vß╗¢i ├┤ng, cuß╗æn s├ích n├áy ΓÇ£l├á hß╗ô s╞í - l├á bß║▒ng chß╗⌐ng - cß╗ºa mß╗Öt ─æß╗¥i sß╗æng nß╗Öi t├ómΓÇ¥.

Ngay cß║ú trong ph├ón t├¡ch hß║¡u cß║Ñu tr├║c, n╞íi t╞░ß╗ƒng nh╞░ triß╗çt ti├¬u c├íi t├┤i, nh├á ph├¬ b├¼nh ng╞░ß╗¥i Ph├íp Roland Barthes c┼⌐ng v├┤ thß╗⌐c kß╗â lß║íi bß║ún thß╗â m├¼nh qua S/Z (P/S). ─É├óy l├á mß╗Öt t├íc phß║⌐m ph├¬ b├¼nh v─ân hß╗ìc, cß╗Ñ thß╗â l├á mß╗Öt ph├ón t├¡ch chi tiß║┐t vß╗ü truyß╗çn ngß║»n Sarrasine cß╗ºa ─æß║íi v─ân h├áo ng╞░ß╗¥i Ph├íp Balzac. Nh├á ph├¬ b├¼nh Thß╗Ñy Khu├¬ truy vß║Ñn v├á t╞░ß╗¥ng giß║úi: Tß║íi sao Barthes lß║íi chß╗ìn truyß╗çn ngß║»n Sarrasine cß╗ºa Balzac? Lß╗æi ph├ón t├¡ch vß╗½a cß║»t vß╗½a d├ín cß╗ºa Barthes khiß║┐n ch├║ng ta c├│ thß╗â thß║Ñy tß║Ñt cß║ú nhß╗»ng n├⌐t lß╗ôi l├╡m cß╗ºa mß╗Öt t├íc phß║⌐m cß╗ò ─æiß╗ân t╞░ß╗ƒng l├á nhß║╡n nhß╗Ñi bß║▒ng phß║│ng. C├íi nhan ─æß╗ü S/Z cß╗ºa Roland Barthes biß╗âu tr╞░ng t├¡nh chß║Ñt b├¡ mß║¡t cß╗ºa to├án thß╗â t├íc phß║⌐m qua hai nh├ón vß║¡t ch├¡nh: S l├á chß╗» ─æß║ºu ti├¬n t├¬n Sarrasine, ng╞░ß╗¥i hß╗ìa s─⌐ t├ái danh ─æam m├¬, v├á Z l├á chß╗» ─æß║ºu ti├¬n t├¬n Zambinella, mß╗Öt danh ca bß╗ï thiß║┐n tß╗½ nhß╗Å ─æß╗â giß╗» giß╗ìng kim tuyß╗çt vß╗¥i. Hai ng╞░ß╗¥i ─æ├án ├┤ng n├áy, li├¬n hß╗ç tß╗¢i sß╗▒ ─æß╗ông t├¡nh cß╗ºa Barthes, ─æß╗üu mang t├¬n ─æ├án b├á, tuy ─æß╗⌐ng ß╗ƒ hai ph├¡a nh╞░ng c├╣ng mß╗Öt n├▓i: t├ái hoa bß║íc mß╗çnh.

Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng nói về lối phê bình của Madame de Staël - nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ - như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh (transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt, nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm, nghĩ - và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân thực của “nhật kí tinh thần” người viết.

Ph├¬ b├¼nh nh╞░ tß╗▒ truyß╗çn - ngh─⌐a l├¡ v├á l╞░u ├╜ 

Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại, người đồng hành, đồng sáng tạo.

Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại - đúng như tinh thần của một xã hội đa chiều.

Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc - đặc biệt là khi kể chuyện về cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.

Theo nh├á ph├¬ b├¼nh Tß╗½ Huy, Alain Robbe-Grillet, nh├á v─ân v├á nh├á l├ám phim ng╞░ß╗¥i Ph├íp, ─æ├ú n├│i vß╗ü nhß╗»ng b├ái viß║┐t cß╗ºa Barthes b├án vß╗ü c├íc t├íc phß║⌐m Kß║╗ nh├¼n trß╗Öm v├á Nhß╗»ng chiß║┐c tß║⌐y cß╗ºa ├┤ng nh╞░ sau: ΓÇ£T├┤i ─æ├ú tin rß║▒ng Barthes kh├┤ng hß╗ü n├│i g├¼ vß╗ü t├┤i, m├á ng╞░ß╗úc lß║íi, ├┤ng n├│i vß╗ü ch├¡nh ├┤ng, kh├┤ng phß║úi theo mß╗Öt c├ích thß╗⌐c chß║╖t chß║╜, ch├¡nh x├íc..., m├á lß╗Ång...ΓÇ¥. Ch├¡nh ─æiß╗üu n├áy lß║íi hß║Ñp dß║½n Robbe-Grillet. ├öng ho├án to├án chß║Ñp nhß║¡n viß╗çc nh├á ph├¬ b├¼nh c├│ thß╗â d├╣ng t├íc phß║⌐m cß╗ºa m├¼nh nh╞░ mß╗Öt c├íi cß╗¢ ─æß╗â triß╗ân khai t╞░ t╞░ß╗ƒng cß╗ºa ch├¡nh hß╗ì, bß║Ñt chß║Ñp viß╗çc nhß╗»ng t╞░ t╞░ß╗ƒng ─æ├│ c├│ thß╗â ho├án to├án kh├┤ng ─ân nhß║¡p g├¼ vß╗¢i ├╜ ─æß╗ô s├íng tß║ío, vß╗¢i c├ích hiß╗âu cß╗ºa nh├á v─ân vß╗ü t├íc phß║⌐m cß╗ºa m├¼nh. Bß╗ƒi v├¼ suy cho c├╣ng, ├╜ ─æß╗ô cß╗ºa nh├á v─ân sau khi t├íc phß║⌐m ─æ├ú ─æ╞░ß╗úc viß║┐t ra sß║╜ chß╗ë tß╗ôn tß║íi nh╞░ mß╗Öt c├ích thß╗⌐c diß╗àn giß║úi giß╗»a v├┤ v├án c├ích thß╗⌐c diß╗àn giß║úi kh├íc. ─Éiß╗üu quan trß╗ìng l├á t├íc phß║⌐m c├│ khß║ú n─âng k├¡ch th├¡ch nhß╗»ng tiß╗üm n─âng cß╗ºa diß╗àn giß║úi. 

Tuy nhi├¬n, cß║ºn l╞░u ├╜ rß║▒ng, kh├┤ng phß║úi cß╗⌐ ph├¬ b├¼nh l├á tß╗▒ truyß╗çn, c├áng kh├┤ng thß╗â ─æ├ính ─æß╗ông ph├¬ b├¼nh vß╗¢i t├╣y b├║t, dß║½n ph├¬ b├¼nh ─æß║┐n t├╣y tiß╗çn. Ph├¬ b├¼nh l├á khoa hß╗ìc, ─æ├║ng h╞ín, l├á ΓÇ£con vß║¡t l╞░ß╗íng th├¬ΓÇ¥ d├╣ng dß║▒ng giß╗»a khoa hß╗ìc v├á nghß╗ç thuß║¡t. Tr├íi tim n├│ng nghß╗ç thuß║¡t rß║Ñt cß║ºn c├íi ─æß║ºu lß║ính khoa hß╗ìc phß╗æi tiß║┐t. 

Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (...) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.

* * *

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận - nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người - đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kì lạ khi chân lí bằng cách nào đó được rọi sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”. Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân… vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.

Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê bình - như một tự truyện gián tiếp - không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và nhìn sâu vào chính mình của chính họ.

Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức - tất cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài bỗng hiện rõ - một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.

Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi mình. Không chỉ là lí giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.

Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần tìm linh hồn của mình.

Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối - nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.